- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Hồng P được ly hôn với ông Quách Vũ Q.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 680/2019/HNGĐ-ST Ngày: 24/7/2019 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Nhã. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Năm. 2. Bà Nguyễn Thị Kính.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Hồng Đào - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Kim Sinh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 729/2018/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2018 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2019/QĐXXST – HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2019/QĐST – HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng P, sinh năm 1987; địa chỉ: 229 ấp Hưng Hòa, xã Tân Khánh Trung, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Ông Quách Vũ Q, sinh năm 1990; địa chỉ: 21 Đường 267 Ba Tơ, Phường 7, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ghi ngày 04 tháng 6 năm 2018 cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Hồng P trình bày:
Bà và ông Quách Vũ Q sống chung vào năm 2015, đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân Phường B Quận T. Mâu thuẫn gia đình xảy ra nguyên nhân là do ông Q không chăm lo cho gia đình, bà đã khuyên bảo và tạo cơ hội để ông Q thay đổi nhưng ông Q vẫn không thay đổi được. Hiện nay tình cảm gia đình đã không còn, không thể hàn gắn được. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 2/2018 cho đến nay. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Q.
Về con chung: Có một con chung tên Quách Ngọc Như Q sinh ngày 14/9/2015. Bà P sẽ trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
Trong bản tự khai ngày 16/11/2018 ông Quách Vũ Q trình bày:
Ông xác nhận vợ chồng sống chung với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B Quận T vào năm 2016. mâu thuẫn gia đình xảy ra là do bản thân ông và một phần là do vợ ông có ý nghĩ gia đình ông không đối xử tốt với vợ ông. Cả hai có hòa giải nhiều lần để hàn gắn tình cảm nhưng không thành và đã sống ly thân từ tháng 3/2018 cho đến nay. Về quan hệ vợ chồng, ông có nguyện vọng muốn vợ chồng đoàn tụ.
Về con chung: Có một con chung tên Quách Ngọc Như Q sinh ngày 14/9/2015. Nếu vợ chồng ly hôn, ông sẽ giao con chung cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng , ông sẽ cấp dưỡng nuôi con từ 2 đến 3 triệu đồng một tháng.
Về tài sản chung và nợ chung không có.
Tuy nhiên sau đó Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông Q đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông Q không đến, do đó Tòa án không tiến hành kiểm tra chứng cứ và hòa giải đối với các đương sự được.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chấp hành tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự; bị đơn chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự. Về phần nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét đơn khởi kiện của bà Lê Thị Hồng P thì đây là vụ án tranh chấp về ly hôn; do bị đơn cư trú tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, nên theo qui định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Xét nguyên đơn bà Lê Thị Hồng P có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và bị đơn ông Quách Vũ Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nên căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Xét việc bà Lê Thị Hồng P và ông Quách Vũ Q chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 7 Quận 8 Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 03/2016 đăng ký ngày 27/01/2016 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu của bà P xin được ly hôn với ông Q do bà P không còn tình cảm với ông Q, cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc, không có tình nghĩa vợ chồng, đời sống chung không thể kéo dài và hai bên đã tự sống ly thân, bỏ mặc nhau, không còn yêu thương nhau, không giúp đỡ để cùng nhau phát triển. Mặc khác, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Q nhiều lần đến Tòa để làm rõ tình trạng hôn nhân giữa ông Q với bà P nhưng ông Q chỉ đến làm bản tự khai rồi sau đó không đến nữa. Chứng tỏ ông Q thiếu thiện chí để hòa giải những mâu thuẫn giữa vợ chồng, không xem trọng cuộc sống chung vợ chồng. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà P là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét về con chung: Quá trình chung sống bà P và ông Q có một con chung tên Quách Ngọc Như Q sinh ngày 14/9/2015, bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con và tại bản tự khai, ông Q cũng đồng ý với yêu cầu của bà P ; yêu cầu này phù hợp với thực tế, đảm bảo quyền lợi cho con trẻ. Vì vậy, căn cứ vào Điều 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng, ông Q được tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi bà P có yêu cầu.
Xét về tài sản chung và nợ chung đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà P phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56 và Điều 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Hồng P được ly hôn với ông Quách Vũ Q.
2. Về con chung: Giao cho bà Lê Thị Hồng P trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Quách Ngọc Như Q sinh ngày 14/9/2015. Ông Quách Vũ Q được tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi bà P có yêu cầu.
Ông Q có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của trẻ, theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em hoặc Hội liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) bà P phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0014986 ngày 10/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8. Bà P đã thi hành xong phần án phí dân sự sơ thẩm.
5. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Quận 8; - Chi cục THADS Quận 8; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Nhã |