- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hùng T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Hùng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2019/HSST Ngày: 07 -5 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Thành Viên
2. Bà Võ Thị Mai
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Lê Quỳnh Thư
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2019 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 37/2019/HSST ngày 01 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91A/2019/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:
Lê Hùng T; giới tính: Nam, sinh năm 1991 tại tỉnh TH; Hộ khẩu T trú và nơi cư trú: Thôn TK, xã C L, huyện N C, tỉnh T H; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Lê Văn V (sinh năm 1960) và bà Cao Thị Ch (sinh năm 1961); Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con; Tiền án : không; Tiền sự: có 01 tiền sự; 01; Ngày 01/7/2018 bị Công an Phường Sơn Kỳ, quận Tân Phú ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản ; Bị cáo bị bắt và tạm giữ từ ngày 20/4/2018 đến ngày 23/4/2018 tại nhà tạm giữ Công an quận Gò Vấp. Bị cáo tại ngoại. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an quận Tân Phú từ ngày 29/3/2019 (có mặt)
Bị hại :
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1989; Trú tại: 240/2 Phạm Văn Ch, Phường 09, quận G, Thành phố H (vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị H, sinh năm 1986; trú tại : Thôn 8, xã Thiện Lý, huyện TH, tỉnh TH (vắng mặt)
- Bà Lê Thị Hồng D, sinh năm 1993 ; trú tại : 17 TS, Phường T Q, quận T P, Tp. H (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 19.4.2018, Lê Hùng T rủ Lê Văn T (em rể) đi trộm cắp tài sản, do cần tiền tiêu xài nên T đồng ý. T điều khiển xe gắn máy biển số 36B4 – 701.36 chở T ngồi sau chạy lòng vòng xem nhà nào để tài sản sơ hở thì trộm cắp. Đến khoảng 02 giờ ngày 19.4.2018 khi chạy đến trước hẻm 240/2 Phạm Văn Chiêu, phường 9, quận Gò Vấp thì T dừng xe lại và kêu T đứng ngoài cảnh giới còn T đi vào trong hẻm có dãy nhà trọ thì nhìn thấy phòng trọ của chị Nguyễn Thị Thuận đang mở cửa bên trong có để một chiếc điện thoại di động hiệu Sony đang cắm sạc, T liền lấy trộm chiếc điện thoại di động rồi đi ra. Lúc này tổ tuần tra Công an phường 9, quận Gò Vấp nhìn thấy T có biểu hiện khả nghi nên giữ T đồng thời đi vào bên trong hẻm thì phát hiện T đang lẩn trốn nên bắt giữ T cùng vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ:
- 01 ĐTDĐ hiệu Sony màu trắng bị bể kính màn hình, imei 1: 358138068536768, imei 2358138068536776 .
Tại bản kết luận định giá tài sản số 146/KL ngày 24.5.2018 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp kết luận: giá trị ĐTDĐ hiệu Sony màu trắng bị bể kính màn hình, imei 1: 358138068536768, imei 2358138068536776, hàng chính hảng đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 19.4.2018 là 500.000 đồng.
- 01 xe gắn máy biển số 36B4 – 701.36 (phương tiện gây án)
Tại Cơ quan điều tra, Lê Hùng T và Lê Văn T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đối với Lê Văn T, qua xác minh T có 02 tiền án về tội Trộm cắp tài sản vào năm 2008 và 2009. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh án phí đối với 02 bản án này tại chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân và quận Cầu Giấy Hà Nội, kết quả Lê Văn T đã nộp án phí của 02 bản án này. Do đó, không có căn cứ để xử lý hình sự đối với T.
Tại cơ quan điều tra Lê Hùng T đã thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 39/Ctr-VKS, ngày 19/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Lê Hùng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Hùng T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khỏan 1 Điều 173, Khỏan 1, khỏan 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Lê Hùng T mức án từ 06 (sáu) tháng tù.
- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo
-Giao Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu 01 xe gắn máyhiệu Yamaha Sirius biển số 36B4 – 701.36 trong thời hạn 03 tháng nếu không ai đến nhận thì tịch thu sung quỹ nhà nước.
-Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại Iphone màu trắng và 01 điện thoại Mastel A16 số imei 301014130729533
Qua ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát bị cáo nhất trí và không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai của người làm chứng, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo kết quả định giá trong tố tụng hình sự, tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị 500.000 đồng. Tuy giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 004166/QĐ-XPHC ngày 01/7/2017 của Trưởng công an phường Sơn Kỳ, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Lê Hùng T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người bị hại, bị cáo cố ý lén lút lấy trộm chiếc điện thoại là tài sản của người bị hại, điều đó cho thấy bị cáo rất xem T pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo chỉ vì muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính nên đã thực hiện hành vi phạm tội.
Bị cáo là người có thân nhân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi “ Trộm cắp tài sản”, nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội cho thấy bị cáo không hề ăn năn hối cải nên cần thiết phải xử lý nghiêm. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội, tài sản đã thu hồi trả cho người bị hại để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với Lê Văn T, qua xác minh T có 02 tiền án về tội Trộm cắp tài sản vào năm 2008 và 2009. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh án phí đối với 02 bản án này tại chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân và quận Cầu Giấy Hà Nội, kết quả Lê Văn T đã nộp án phí của 02 bản án. Do đó, cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với T là có cơ sở.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Tại phiên tòa, bị hại chị Nguyễn Thị Thuận vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện chi đã nhận lại chiếc điện thoại bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- 01 ĐTDĐ hiệu Sony màu trắng bị bể kính màn hình, imei 1: 358138068536768, imei 2358138068536776. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Thuận là chủ sở hữu. Xét việc trả lại tài sản trên là hợp lê nên không đưa ra xem xét giải quyết lại.
- 01 xe gắn máyhiệu Yamaha Sirius biển số 36B4 – 701.36 (phương tiện gây án) qua xác minh chiếc xe trên do chị Lê Thị Hằng đứng tên, chị Hằng đã cho em ruột Lê Văn Điệp sử dụng. Do không xác định được địa chỉ anh Điệp nên chị liên lạc qua điện thoại, anh Điệp xác định đã bán chiếc xe khi đi làm ở tỉnh Bình Dương không làm giấy tờ mua bán nên không nhớ bán cho ai. Bị cáo khai mượn chiếc xe của em ruột Lê Thị Hồng Dung, qua làm việc Dung khai mua chiếc xe của anh Lê Xuân Ngoãn vào năm 2017 bằng giấy tay nhưng không có chứng cứ chứng minh. Qua xác minh anh Lê Xuân Ngoãn đã đi khỏi đia phương không rõ đi đâu. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có ai đến nhận. Xét chiếc xe chưa xác định được chủ sở hữu và là phương tiện gây án nên Hội đồng xét xử quyết định giao Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu trong thời hạn 03 tháng nếu không ai đến nhận thì tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone màu trắng và 01 điện thoại Mastel A16 số imei 301014130729533 là tư vật của bị cáo không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Hùng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lê Hùng T 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án nhưng khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20/4/2018 đến 23/4/2018.
Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và khỏan 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
-Giao Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu 01 xe gắn máyhiệu Yamaha Sirius biển số 36B4 – 701.36 trong thời hạn 03 tháng nếu không ai đến nhận thì tịch thu sung quỹ nhà nước.
-Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại Iphone màu trắng và 01 điện thoại Mastel A16 số imei 301014130729533
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 164/PNK ngày 30/7/2018 của Công an quận Gò Vấp)
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban T vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Hồng Dung có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TPHCM;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Chi cục thi hành án quận Gò Vấp;
- Công an quận Gò Vấp;
- Viện kiểm sát quận Gò Vấp;
(ĐÃ KÝ)
- Người tham gia tố tụng;
- Bị cáo;
- PC27 công an TPHCM;
- THA hình sự;
- Lưu.
Phạm Thị Hương
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TPHCM;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Chi cục thi hành án quận Gò Vấp;
- Công an quận Gò Vấp;
- Viện kiểm sát quận Gò Vấp;
- Người tham gia tố tụng;
- Bị cáo;
- PC27 công an TPHCM;
- THA hình sự;
- Lưu.
Phạm Thị Hương
Thực hiện theo tinh thần của Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015, Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội và Công văn số 276/TANDTC –PC ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội. Đối chiếu mức hình phạt của Bộ luật Hình sự năm 1999 với Bộ luật Hình sự năm 2015 thì mức hình phạt của Bộ luật Hình sự năm 2015 có lợi hơn cho bị cáo nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét cho bị cáo khi lượng hình.
| Nơi nhận: - TAND TPHCM; - Chi cục thi hành án quận Gò Vấp; - Công an quận Gò Vấp; - Viện kiểm sát quận Gò Vấp; - Người tham gia tố tụng; - Bị cáo; - PC27 công an TPHCM; - THA hình sự; - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hương Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |