vanban.org

Bản án 68/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "S - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5-VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2026/HS-ST
Ngày: 14/5/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Ngô Văn Trình

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Phương Nhi

Ông Trịnh Ngọc Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vương - Thư ký viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Ngà - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5-Vĩnh Long, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2026/TLST-HS ngày 17/4/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2026/QĐXXST-HS ngày 24/4/2026 đối với bị cáo:

Phạm Ngọc S, tên gọi khác không; giới tính N; sinh ngày 01/01/1976 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú số F, ấp T, xã P, tỉnh Vĩnh Long; căn cước công dân số 083076011848; trình độ văn hóa 00/12; nghề nghiệp bán vé số; dân tộc Kinh; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Phạm Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án không; tiền sự không.

Nhân thân năm 1994 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Vĩnh Long) xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 25/02/1995.

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/02/2026 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Võ Minh N1, sinh năm 1997; nơi cư trú: số D, ấp L, xã C, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Võ Văn T1, sinh năm 1984; nơi cư trú số A, Ấp B, xã P, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt. Vắng mặt.

2. Mai Trung H, sinh năm 1977; nơi cư trú số 591/8, ấp T, xã P, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 04/12/2025, Phạm Ngọc S đi xe đạp bán vé số trên đoạn đường L, khi đi ngang khu vực thuộc Khu phố F, phường A, tỉnh Vĩnh Long, S thấy ông Võ Minh N1 đang dừng xe ô tô nên S đến mời ông N1 mua vé số. Lúc này, S phát hiện ông N1 để một điện thoại di động Iphone 17 Promax màu cam trong ngăn cửa phía bên trái ghế tài xế nên S nảy sinh ý định lấy trộm. Lợi dụng lúc N1 đón khách không chú ý quan sát, S đưa tay vào trong cửa kính của xe đang mở, lấy trộm điện thoại để vào túi đựng vé số đang đeo trên người và điều khiển xe đạp bỏ đi. Sau khi trộm được điện thoại, do bị khóa nguồn không sử dụng được nên S tìm gặp Mai Trung H để nhờ H tìm chỗ sửa điện thoại, được H đồng ý (H không biết điện thoại do S lấy trộm) và chở S đến nhà Võ Văn T1. T1 nhận điện thoại từ S và tiến hành kiểm tra nhưng vì ở nhà không có dụng cụ mở khóa nên T1 hẹn chiều sẽ trả điện thoại cho S. Còn Võ Minh N1 sau khi bị mất điện thoại đã tiến hành kiểm tra camera và trình báo Công an phường A để được giải quyết. Công an phường A đã mời Phạm Ngọc S, Mai Trung H, Võ Văn T1 làm việc và thu giữ tài sản là một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 17 Promax.

Đồ vật, tài liệu thu giữ một điện thoại di động Iphone 17 Promax màu cam do Võ Văn T1 giao nộp.

Thu giữ của Phạm Ngọc S một áo sơ mi tay dài màu xanh; một quần Jean dài màu xanh, một đôi dép quai ngang màu đen; một túi xách màu đen; một xe đạp có màu sơn trắng, không nhãn hiệu.

Một đĩa DVDRW maxell Master Quality CD-R80MQ SPEED COMPATIBLE 52X do Võ Minh N1 giao nộp (BL 101). Bên trong ghi chép 02 đoạn video gồm Video 1 mang tên 7310490304568 có dung lượng 4621kb, thời lượng 17 giây ghi hình ảnh thời gian từ 07 giờ 30 phút 49 giây ngày 04/12/2025 đến 07 giờ 31 phút 07 giây ngày 04/12/2025 với định dạng là MP4 file; Video 2 mang tên 7310498108365 có dung lượng 1828kb, thời lượng 06 giây ghi hình ảnh thời gian từ 07 giờ 31 phút 19 giây ngày 04/12/2025 đến 07 giờ 31 phút 21 giây ngày 04/12/2025 với định dạng là MP4 file.

Bản Kết luận định giá tài sản số 216/KL-HĐĐG ngày 20/01/2026 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự phường A, tỉnh Vĩnh Long kết luận một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 17 Promax 256 GB trị giá 36.745.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự bị hại Võ Minh N1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đã trả cho ông Võ Minh N1 một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 17 Promax 256GB.

Đối với một áo sơ mi tay dài màu xanh; một quần Jean dài màu xanh, một đôi dép quai ngang màu đen đây là trang phục bị can mặc lúc thực hiện hành vi phạm tội.

Đối với một túi xách màu đen; một xe đạp có màu sơn xanh, không nhãn hiệu đây là phương tiện bị can sử dụng thực hiện hành vi phạm tội hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V tiếp tục tạm giữ.

Đối với một đĩa DVDRW maxell Master Quality CD-R80MQ SPEED COMPATIBLE 52X do Võ Minh N1 giao nộp, bên trong ghi chép 02 đoạn video, nội dung ghi nhận diễn biến vụ án nên lưu giữ trong hồ sơ.

Quá trình điều tra, Phạm Ngọc S khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai nhân chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận định giá cũng như các chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được.

Tại Bản cáo trạng số 30/CT-VKSKV5 ngày 16/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Vĩnh Long đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận vào ngày 04/12/2025 bị cáo có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Võ Minh N1 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 17 như như nội dung cáo trạng nêu. Đối với các tài sản của bị cáo bị công an thu giữ bị cáo không có yêu cầu nhận lại. Bị cáo không khiếu nại các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Kiểm sát viên phát biểu luận tội giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị:

Về hình phạt chính:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng do bị cáo không có tài sản và nghề nghiêp ổn định.

Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Ghi nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Võ Minh N1 một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 17 Promax 256GB, bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác.

Đối với một áo sơ mi tay dài màu xanh; một quần Jean dài màu xanh, một đôi dép quai ngang màu đen đây là trang phục S đề nghị trả lại cho bị cáo.

Đối với một túi xách màu đen dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu huỷ.

Một xe đạp có màu sơn trắng, không nhãn hiệu đây là phương tiện S sử dụng thực hiện hành vi phạm tội đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Lưu hồ sơ vụ án một đĩa DVDRW maxell Master Quality CD-R80MQ SPEED COMPATIBLE 52X do Võ Minh N1 giao nộp, bên trong ghi chép 02 đoạn video.

Bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi phạm tội và bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại, người làm chứng vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra, họ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở xác định:

Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 04/12/2025, tại đường L thuộc Khu phố F, phường A, tỉnh Vĩnh Long, Phạm Ngọc S có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Võ Minh N1 một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 17 Promax, trị giá 36.745.000 đồng. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận biết rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã cố ý thực hiện. Với ý thức và hành vi đó bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn nơi bị cáo phạm tội đã gây ra tâm lý lo sợ cho quần chúng nhân dân trong lao động, trong sinh hoạt hàng ngày.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng đã từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” đã được xóa.

Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh V đã trả lại cho bị hại Võ Minh N1 một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 17 Promax 256GB.

Đối với một áo sơ mi tay dài màu xanh; một quần Jean dài màu xanh, một đôi dép quai ngang màu đen đây là trang phục S mặc và một túi xách màu đen sử dụng thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

Một xe đạp có màu sơn trắng, không nhãn hiệu đây là phương tiện S sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Phần bồi thường thiệt hại ghi nhận bị hại đã nhận lại được tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác.

Lưu hồ sơ vụ án một đĩa DVDRW maxell Master Quality CD-R80MQ SPEED COMPATIBLE 52X do Võ Minh N1 giao nộp, bên trong ghi chép 02 đoạn video.

Võ Văn T1, Mai Trung H là người giới thiệu và sửa chữa điện thoại sau khi bị cáo lấy trộm. Tuy nhiên T1 và H, không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.

Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, hình phạt, xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp là phù hợp nên được chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1.Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ một áo sơ mi tay dài màu xanh; một quần Jean dài màu xanh, một đôi dép quai ngang màu đen, một túi xách màu đen.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước một xe đạp có màu sơn trắng, không nhãn hiệu.

Lưu hồ sơ vụ án một đĩa DVDRW maxell Master Quality CD-R80MQ SPEED COMPATIBLE 52X do Võ Minh N1 giao nộp, bên trong ghi chép 02 đoạn video.

(Vật chứng hiện Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 5-Vĩnh Long quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/05/2026).

3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ