- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn P-L"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Minh P.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2026/HN&GĐ-ST Ngày: 13-7-2026 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Thuận.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trần Văn Sơn.
2/ Bà Lê Thị Thanh Huyền.
T ký phiên toà: Bà Lê Như Quỳnh - T ký Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 122/2026/TLST-HN&GĐ ngày 15 tháng 4 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2026/QĐXXST-HN&GĐ ngày 05 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 128/2026/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Minh P, sinh năm 1990;
Nơi cư trú: Số 63, đường số 3, thôn Đức Tín 5 (nay là thôn Đắc Hạnh), xã H d, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Chị Hứa Thị Kim L, sinh năm 1984.
Hộ khẩu Tờng trú: Tổ 4, thôn Đức Tín 5 (nay là thôn Đắc Hạnh), xã H d, tỉnh Lâm Đồng.
Nơi cư trú: Số 11, đường số 6, thôn Đức Hạnh 2 (nay là thôn Đắc Đạo), xã H d, tỉnh Lâm Đồng.
Tại phiên tòa, vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Về hôn nhân: Năm 2024, anh P và chị L kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đức Tín, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận (cũ). Sau ngày cưới vợ chồng sống chung cùng gia đình anh P; vợ chồng sống hạnh phúc được khoản 1 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Do cách sống, quan điểm sống hai người quá khác biệt, càng sống chung cả hai càng nhận ra có những thứ không thể dung hòa; những bất đồng trong cuộc sống hai người dần mất tiếng nói chung, vợ chồng Tờng xuyên cải vã, tháng 5/2025 chị L tự ý ra ngoài thuê nhà ở riêng, từ đó anh P và chị L sống ly thân đến nay. Anh P xác định vợ chồng không còn tình cảm yêu Tơng, quý trọng nhau, mẫu thuẫn vợ chồng thật sự trầm trọng không hàn gắn được, nên anh P yêu cầu ly hôn chị L.
Về con chung: Anh P khai nhận giữa anh P và chị L đã có với nhau 01 con chung tên Lê Ngọc Quỳnh T, sinh ngày 13/7/2024. Sau khi ly hôn, anh P yêu cầu được quyền nuôi con chung, anh P không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ: Anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải, giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn không cung cấp ý kiến, tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, T ký Tòa án và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện quyền, nghĩa vụ đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ đúng quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhập yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho anh Lê Minh P ly hôn chị Hứa Thị Kim L.
2. Về con chung: Giao cho anh Lê Minh P quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Lê Ngọc Quỳnh T, sinh ngày 13/7/2024.
3. Ghi nhận ý kiến tự nguyện của nguyên đơn về việc không yêu cầu giải quyết tranh chấp về cấp dưỡng, chia tài sản và nợ khi ly hôn.
4. Buộc nguyên đơn chịu án phí ly hôn theo quy định.
(có bài phát biểu kèm theo)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn Lê Minh P khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn Hứa Thị Kim L; bị đơn có nơi Tờng trú tại tổ 4, thôn Đức Tín 5 (nay là thôn Đắc Hạnh), xã H d, tỉnh Lâm Đồng. Do đó, căn cứ Điều 51, 56, 57, 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng.
Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ án như sau:
Về hôn nhân: Anh P và chị L tự nguyện tìm hiểu, yêu Tơng nhau và đi đến hôn nhân vào năm 2024, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đức Tín, huyện Đức Linh, Linh, tỉnh Bình Thuận (nay là xã H d, tỉnh Lâm Đồng). Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh P và chị L được công nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
Sau khi kết hôn, anh P và chị L sống chung với nhau được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo lời khai của anh P là do cách sống, quan điểm sống giữa chị L và anh P quá khác biệt. Qua kết quả xác minh đối với người thân của anh P cho thấy giữa chị L và anh P có mâu thuẫn với nhau trong thời kỳ hôn nhân và dẫn đến ly thân.
Từ những phân tích trên cho thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh P và chị L đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh P đối với chị L.
Về con chung: Căn cứ bản sao giấy khai sinh số 115, đăng ký ngày 24/7/2024 tại UBND xã Đức Tín, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận (cũ) thể hiện cháu Lê Ngọc Quỳnh T, sinh ngày 13/7/2024 là con chung của ông Lê Minh P và bà Hứa Thị Kim L.
Quá trình giải quyết vụ án, anh P yêu cầu được quyền nuôi con chung, Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của chị L về việc nuôi con chung.
Nhận thấy, sau khi anh P và chị L không còn sống chung như vợ chồng thì anh P là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu T (có xác nhận của chính quyền địa phương). Do đó việc thay đổi môi trường sống, môi trường học tập ít nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến cháu; mặt khác trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, chị L biết nhưng không có ý kiến tranh chấp về việc nuôi con chung, anh P có sức khỏe và không thuộc trường hợp bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên; do đó, sau khi xem xét quyền lợi về mọi mặt của cháu T, Hội đồng xét xử quyết định giao cho anh P quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung là phù hợp với quy định tại khoản Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con, tranh chấp chia tài sản và nợ khi ly hôn: Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của đương sự về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; các Điều 143, 144, 147, 227, 228, 235, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 57, 81, 82, 84, 110, 116, 117 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 7 của Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Minh P.
1. Về hôn nhân: Anh Lê Minh P ly hôn chị Hứa Thị Kim L.
Giấy chứng nhận kết hôn số 06, đăng ký ngày 11/01/2024 tại Ủy ban nhân dân xã Đức Tín, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận (nay là xã H d, tỉnh Lâm Đồng) giữa anh Lê Minh P ly hôn chị Hứa Thị Kim L hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao cho anh Lê Minh P quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Lê Ngọc Quỳnh T, sinh ngày 13/7/2024.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thực hiện quyền này để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 86 Luật hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chưa thành niên của người không trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con, tranh chấp chia tài sản và nợ khi ly hôn: Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của đương sự về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
4. Về án phí: Anh Lê Minh P phải nộp số tiền 300.000đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0006803 ngày 15/4/2026. Anh Lê Minh P đã nộp đủ tiền án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng; - VKSND khu vực 17; - Phòng THADS khu vực 17; - UBND xã H d, tỉnh Lâm Đồng; - Lưu hồ sơ vụ án, tập án văn; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Thuận |