vanban.org

Bản án 68/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Tuyên án 10/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Đoàn Đình Đ và Tống Công Q phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

2/ Xử phạt: Bị cáo Đoàn Đình Đ 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ 11/12/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Đình Đ và đồng phạm - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Đoàn Đình Đ và Tống Công Q phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2025/HS-ST
Ngày: 10 – 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ- TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương và bà Lê Thị Tuyết Thanh.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Chính – Là Thẩm tra viên của Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Đoàn Đình Đ, sinh năm 2003 tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Minh T và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt. Bị bắt tạm giữ ngày 11/12/2024 đến ngày 17/12/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt.

2. Tống Công Q, sinh năm 2003 tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn Ao, xã A , huyện B, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Công T1 và bà Vũ Thị T2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt. Bị bắt tạm giữ ngày 11/12/2024 đến ngày 17/12/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Trịnh Hoà B, sinh năm 2003. Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

Anh Phạm Việt C, sinh năm 1981. Địa chỉ: Tổ 13D, phường C, thành phố Pý, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

Anh Đào Văn D, sinh năm 2003. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

Anh Phùng Duy T3, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ 8D, phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam; Vắng mặt.

Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1980. Địa chỉ: Tổ 9A, phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam; Vắng mặt.

Bà Đinh Thị M1, sinh năm 1952. Địa chỉ: Xóm Đ, thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam. Có mặt.

Ông Tống Công T1, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn A , xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam. Có mặt.

- Người làm chứng:

Anh Nguyễn Văn TH, sinh năm 1983; Vắng mặt.

Anh Lê Hữu C1, sinh năm 1984; Vắng mặt.

Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1990; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 10/12/2024, khi tan ca làm tại Công ty SYP ở Cụm khu Công nghiệp B, tỉnh Hà Nam, Đoàn Đình Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng - đen không đeo biển số, không đội mũ bảo hiểm cùng với Tống Công Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 90B5-047.45 đội mũ bảo hiểm màu đen rủ nhau đi lên thành phố P. Khi đi đến khu đô thị CEO thuộc địa phận phường L, thành phố P, Q dùng khẩu trang màu trắng bịt biển số xe mô tô của mình và cùng Đ điều khiển xe mô tô vào Quảng trường mười cô gái L thuộc địa phận tổ dân phố Đ, phường L, thành phố P ngồi uống nước. Tại đây, Đ gọi cho anh Trịnh Hòa B, sinh năm 2003, trú tại tổ dân phố T 2, phường T, thành phố P đến uống nước cùng. Khoảng 10 phút sau, anh B điều khiển xe mô tô BKS 90AB-129.31 đi một mình đến và ngồi uống nước.

Đến khoảng 21 giờ 05 phút cùng ngày, Đoàn Đình Đ, Tống Công Q và anh Trịnh Hòa B mỗi người điều khiển xe mô tô của mình đi từ đường N rẽ trái ra đường Quốc lộ 1A hướng Hà Nội - Phủ Lý để đi về. Đoàn Đình Đ và anh Trịnh Hòa B điều khiển xe đi với tốc độ cao, khi đến vườn hoa P thì Đ nói với anh B “Lượn qua trường Đại học công nghiệp một tý”, rồi điều khiển xe đi chậm lại để đợi Q. Khi đi đến khu vực trước khách sạn M, anh B gặp người quen nên dừng lại còn Đ và Q tiếp tục điều khiển xe mô tô rẽ phải đi qua cầu H vào đường L, đi thẳng về phía thị xã K thì Đ nhìn thấy lực lượng Cảnh sát giao thông đang lập chốt đo nồng độ cồn phía trước do sợ bị phạt nên Đ nhìn về phía Q hất hàm và nói: “Ê”. Q đã che biển số, thấy Đ hất hàm thì Q hiểu ý của Đ muốn điều khiển xe tăng tốc bỏ chạy qua chốt kiểm tra của lực lượng Cảnh sát giao thông thì bị đồng chí công an làm nhiệm vụ phát hiện Đ điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm nên đã ra tín hiệu dừng xe nhưng Đ, Q không chấp hành và tăng ga đi qua. Khi đi được một đoạn, Đoàn Đình Đ nhìn thấy cách khu vực ngã ba đường L giao với đường L1 khoảng 20 mét thấy có hai người công an đang giơ gậy về phía mình và thổi còi ra tín hiệu dừng xe. Đ và Q cùng rồ ga, về số để lấy đà tăng tốc đâm thẳng về phía tổ công tác nhằm mục đích vượt qua chốt Cảnh sát giao thông. Khi đó, Đ điều khiển xe mô tô đi đằng trước đã lao thẳng về phía công an, khiến công an phải lùi lại để tránh nên Đ phóng vụt xe bỏ chạy. Ngay lúc này, Q điều khiển xe mô tô đi phía sau đã đâm thẳng vào công an đang làm nhiệm vụ là anh Phạm Việt C khiến anh C ngã văng ra đường bị thương tích; xe mô tô do Q điều khiển bị đổ nghiêng phải, trượt rê về phía trước, Q bị ngã ra đường. Tổ cảnh sát giao thông đã đưa anh C đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam điều trị đồng thời báo tin cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phủ Lý giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Vật chứng, đồ vật thu giữ gồm:

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu sơn đen, biển số 90B5-047.45 thu giữ của Tống Công Q.

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng đen, không đeo biển số, số máy G3D4E133031, số khung RLCUG0610FY120421 thu giữ của Đoàn Đình Đ.

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winnerx màu đỏ đen, biến số 90AB-129.31 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Pixel màu đen, bên trong có sim số thuê bao: 0896996756, máy đã qua sử dụng thu giữ của Trịnh Hòa B.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu xám, bên trong có một sim số thuê bao: 0914471372, máy đã qua sử dụng thu giữ của Đoàn Đình Đ.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5 Pro màu xanh, bên trong có một sim số thuê bao: 0981206758, máy đã qua sử dụng thu giữ của Tống Công Q.

- 01 gậy nhựa của lực lượng cảnh sát giao thông màu trắng đen.

- 01 áo mưa loại áo khoác kéo, màu vàng phản quang của lực lượng cảnh sát giao thông, cỡ S, không có mũ, trên ngực và sau lưng áo có dòng chữ "C.S.G.T POLICE", áo cũ đã qua sử dụng.

- 01 quần dài màu vàng, quân phục của cảnh sát giao thông, dài 90cm, phần mông quần có vết sạt chùi bụi kích thước (10x05)cm.

- 02 khẩu trang màu trắng đã qua sử dụng.

- 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 90002906, biển số đăng ký 90AB-129.31 mang tên Trịnh Hòa B do Công an thành phố Phủ Lý cấp ngày 04/4/2024.

- 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 90000657 biển số đăng ký 90B5-047.45 mang tên Tổng Công Q do Công an xã An Lão cấp ngày 21/7/2023.

- 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 350244001207 mang tên Trịnh Hòa B do Sở giao thông vận tải Hà Nam cấp ngày 08/11/2024.

- 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 010225040204 mang tên Tống Công Q do Sở giao thông vận tải Hà Nội cấp ngày 29/3/2022.

- 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự và tự nguyện mô tô - xe mô tô số: XM 24 0189099 mang tên Trịnh Hòa B cho xe 90AB-129.31 có thời hạn đến ngày 02/12/2025.

- 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự và tự nguyện mô tô - xe mô tô số: 2400011299 mang tên Tống Công Q cho xe 90B5-047.45 có thời hạn đến ngày 15/3/2025.

- 01 căn cước công dân số 035203006098 mang tên Tổng Công Q.

- 01 đĩa DVD màu vàng lưu trữ đoạn video được trích xuất từ camera của Trung tâm giao thông đô thị văn minh.

Tại bản kết luận giám định phương tiện số 998/KL-KTHS kết luận: “Xe mô tô Exciter gửi giám định có số khung nguyên thủy: RLCUUG0610FY120421, số máy nguyên thủy: G3D4E-133031”.

Tại bản kết luận định giá tài sản 14/KL-HĐĐGTS ngày 17/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Phủ Lý kết luận: “01 (một) gậy nhựa của lực lượng cảnh sát giao thông màu trắng đen, phần tay cầm bằng nhựa màu trắng, có gắn dây buộc màu trắng ở đuôi tay cầm, dài 40cm. Phần đầu tay cầm gắn với thân gậy bị nút tách nhựa, đã qua sử dụng, thời điểm tháng 12/2024 giá 37.000 đồng”.

Tại bản cáo trạng số 62/CT-VKS-PL ngày 18/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố Đoàn Đình Đ và Tống Công Q về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự 2015 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự).

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Đoàn Đình Đ và Tống Công Q như nội dung bản cáo trạng, không thay đổi nội dung nào khác. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn Đình Đ và Tống Công Q phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đoàn Đình Đ từ 09 đến 12 tháng tù; bị cáo Tống Công Q từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu sơn đen, biển số 90B5-047.45; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Tống Công Q.

- Trả lại bị cáo Tống Công Q 01 giấy phép lái xe hạng A1 do Sở giao thông vận tải Hà Nội cấp ngày 29/3/2022; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5 Pro màu xanh; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự và tự nguyện mô tô - xe mô tô số 2400011299; 02 khẩu trang màu trắng đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân mang tên Tống Công Q. Riêng căn cước công dân giao cho Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền quản lý và trả cho bị cáo sau khi chấp hành xong án phạt tù.

- Trả lại bị cáo Đoàn Đình Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu xám, bên trong có một sim số thuê bao 0914471372.

- Trả lại anh Đào Văn D 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng đen, không đeo biển số.

* Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Việt C từ chối đi giám định thương tích. Ngày 01/4/2024 đại diện gia đình bị cáo Đoàn Đình Đ và Tống Cống Q đã bồi thường cho anh Phạm Việt C số tiền 10.000.000đ, anh Cường đã nhận đủ và không còn yêu cầu, đề nghị gì về dân sự. Đối với thiệt hại cây gậy nhựa của anh Phạm Việt C được giao quản lý và sử dụng, anh C tự khắc phục thiệt hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Đinh Thị M1 là bà nội bị cáo Đoàn Đình Đ; ông Tống Công T1 là bố đẻ bị cáo Tống Công Q đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về sức khoẻ mà các bị cáo gây ra cho anh Phạm Việt C số tiền 10.000.000đ (mỗi gia đình là 5.000.000đ), nay bà M1, ông T1 không yêu cầu bị cáo Đ và Q phải trả bà M1 và ông T1 số tiền đã bồi thường cho anh C.

Các bị cáo đã khai nhận thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận, bào chữa mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm trở về gia đình, xã hội làm người có ích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng như anh D, anh T3, anh M là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; anh TH, anh C1 và anh A là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai và quan điểm của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử và công bố lời khai theo đúng quy định của pháp luật.

Đánh giá về tội danh:

Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên toà đều thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, lời khai người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ chứng cứ buộc tội kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 10/12/2024, Tổ công tác của Đội Cảnh sát giao thông trật tự - Công an thành phố P đang làm nhiệm vụ đảm bảo trật tự an toàn giao thông, kiểm soát nồng độ cồn tại khu vực ngã ba đường L giao với đường L1 thuộc tổ 2, phường L, thành phố P. Lúc này, Đoàn Đình Đ điều khiển xe mô tô không đeo biển số, không đội mũ bảo hiểm và Tống Công Q điều khiển xe mô tô dùng khẩu trang bịt biển số 90B5-047.45 đã không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của tổ công tác, điều khiển xe mô tô tăng ga để bỏ chạy qua chốt kiểm tra. Đ điều khiển xe mô tô đi đằng trước đã lao thẳng về phía anh Phạm Việt C - cán bộ đội Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ, ra hiệu lệnh dừng xe. Đồng chí Phạm Việt C lùi lại tránh được xe mô tô của Đoàn Đình Đ thì bị Tống Công Q điều khiển xe mô tô đi phía sau đâm trúng vào người làm đồng chí C ngã văng xuống đường bị thương tích, không thể tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. Hành vi nêu trên của Đoàn Đình Đ và Tống Công Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý và luận tội tại phiên toà công khai là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đứng pháp luật.

Về vị trí, vai trò của các bị cáo trong đồng phạm:

Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn. Đồng điều khiển xe mô tô đi trước, không chấp hành hiệu lệnh dừng xe lao thẳng về phía cán bộ đội Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ, anh C lùi lại tránh được xe mô tô của Đoàn Đình Đ thì bị Tống Công Q điều khiển xe mô tô đi phía sau đâm trúng vào người ngã văng xuống đường bị thương tích, không thể tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. Các bị cáo cùng là người thực hành nên có vai trò ngang nhau trong vụ án. Căn cứ Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình với từng bị cáo.

Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

- Về nhân thân: Bị cáo Đoàn Đình Đ và Tống Công Q dều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo Đoàn Đình Đ có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự hoàn thành nghĩa vụ và được xuất ngũ; bị cáo có bà nội là thanh niên xung phong được tặng kỷ niệm chương và được Nhà nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhì; gia đình có đơn xin giảm nhẹ hình phạt vì bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn bố mẹ bỏ nhau từ khi bị cáo còn rất nhỏ để lại bị cáo cho ông bà nội nuôi dưỡng, hiện ông bà đã già yếu, bị cáo là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương; Bị cáo Tống Công Q có ông, bà nội đều tham gia cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng chiến; Đại diện gia đình các bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại về sức khoẻ theo yêu cầu của anh Phạm Việt C. Từ những phân tích nêu trên các bị cáo được hưởng các tình tiết tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Đánh giá về hình phạt:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại tới hoạt động bình thường và đúng đắn của cơ quan Nhà nước, xâm hại tới trật tự quản lý hành chính, đồng thời còn xâm hại đến sức khỏe của cá nhân người thi hành công vụ. Hành vi của các bị cáo có tác động xấu đến dư luận, thể hiện thái độ coi thường pháp luật và làm cho tình hình an ninh trật tự ngày một phức tạp. Vì vậy cần xử lý nghiêm đối với hành vi chống người thi hành công vụ của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với các bị cáo để nâng cao hiệu quả công cuộc đầu tranh, phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi lượng hình có xem xét đến tình giảm nhẹ của từng bị cáo để ấn định mức hình phạt cho phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Việt C đã nhận 10.000.000đ tiền bồi thường dân sự của gia đình các bị cáo, và tự khắc phục thiệt hại của chiếc gậy nhựa, không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Xử lý vật chứng đã thu giữ:

- Đối với 01 gậy nhựa của lực lượng Cảnh sát giao thông màu trắng đen, dài 45cm; 01 áo mưa loại áo khoác kéo, màu vàng phản quang của lực lượng cảnh sát giao thông, cỡ S; 01 quần dài màu vàng, quân phục của cảnh sát giao thông, dài 90cm, phần mông quần có vết sạt chùi bụi kích thước (10x05)cm. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Phạm Việt C. Ngày 20/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phủ Lý ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Phạm Việt C là phù hợp quy định của pháp luật.

- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winnerx màu đỏ đen, biển số 90AB-129.31; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Trịnh Hòa B; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trịnh Hòa B; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự và tự nguyện mô tô - xe mô tô mang tên Trịnh Hòa B; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Pixel màu đen, bên trong có sim số thuê bao 0896996756. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Trịnh Hòa B, không liên quan đến vụ án. Ngày 20/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phủ Lý ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là anh Trịnh Hòa B là phù hợp quy định của pháp luật.

- Đối với 01 đĩa DVD màu vàng lưu trữ đoạn video được trích xuất từ camera của Trung tâm giao thông đô thị văn minh được lưu trong hồ sơ nay tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ.

- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu sơn đen, biển số 90B5-047.45; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Tống Công Q là tài sản, giấy tờ hợp pháp của Tống Công Q sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1 do Sở giao thông vận tải Hà Nội cấp ngày 29/3/2022; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5 Pro màu xanh, bên trong có một sim số thuê bao 0981206758; 02 khẩu trang màu trắng đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự và tự nguyện mô tô - xe mô tô số 2400011299, 01 căn cước công dân số 035203006098 là tài sản hợp pháp của Tống Công Q không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại bị cáo.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu xám, bên trong có một sim số thuê bao 0914471372 là tài sản hợp pháp của Đoàn Đình Đ không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo.

- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng đen, không đeo biển số thu giữ của Đoàn Đình Đ, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Đào Văn D, sinh năm 2003, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam. Anh D không biết việc Đ tự ý lấy xe mô tô và thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho anh Dương.

Về vấn đề khác của vụ án:

- Đối với hành vi điều khiển xe mô tô không có gương chiếu hậu bên trái, không đội mũ bảo hiểm, không có giấy phép lái xe của Đoàn Đình Đ; hành vi điều khiển xe mô tô gắn biển số bị che lấp của Tống Công Q, ngày 19/02/2025 Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đoàn Đình Đ và Tống Công Q là đúng theo quy định của pháp luật

- Đối với hành vi gây thương tích cho anh Phạm Việt C của bị cáo Tống Công Q, do anh C kiên quyết từ chối giám định nên không xác định được tỷ lệ phầm trăm thương tích của anh C nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý không có căn cứ xử lý Tống Công Q về tội “Cố ý gây thương tích” là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 47, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đoàn Đình Đ,Tống Công Q.

Căn cứ các Điều 106;135;136; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Tuyên bố bị cáo Đoàn Đình Đ và Tống Công Q phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

2/ Xử phạt:

- Bị cáo Đoàn Đình Đ 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ 11/12/2024.

- Bị cáo Tống Công Q 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2024.

3/ Xử lý vật chứng:

- Tiếp tục lưu giữ 01 đĩa DVD màu vàng lưu trữ đoạn video được trích xuất từ camera của Trung tâm giao thông đô thị văn minh trong hồ sơ vụ án.

- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước. 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu sơn đen, biển số 90B5-047.45; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Tống Công Q do công an xã A cấp ngày 21/7/2023.

- Trả lại Tống Cống Q 01 giấy phép lái xe hạng A1 do Sở giao thông vận tải Hà Nội cấp ngày 29/3/2022; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5 Pro màu xanh, bên trong có một sim số thuê bao 0981206758; 02 khẩu trang màu trắng đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự và tự nguyện mô tô - xe mô tô số 2400011299, 01 Căn cước công dân số 035203006098, tuy nhiên cần giao cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền tạm giữ Căn cước công dân và trả bị cáo khi chấp hành xong án phạt tù.

- Trả lại Đoàn Đình Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu xám, bên trong có một sim số thuê bao 0914471372.

- Trả lại anh Đào Văn D 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng đen, không đeo biển số thu giữ của Đoàn Đình Đ

(Tình trạng đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 04/4/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý).

4/Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Đoàn Đình Đ và Tống Công Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành bản án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ