- Tranh chấp gì? án hình sự — "THẠCH NGỌC B - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thạch Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2025/HS-ST Ngày: 25 – 12 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sỹ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thạch Đa Ra
2. Bà Thạch Thị Mỹ Kim
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hồng Vân, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Lôi Vĩnh Trí, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Vĩnh Long, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2025/HSST, ngày 05 tháng 12 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Thạch Ngọc B, sinh ngày 20/11/1995; nơi cư trú: ấp K, xã H, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Khmer; giới tính: nam; tôn giáo: phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch L, sinh năm 1971 và bà Thạch Thị Kim N, sinh năm 1968. Bị cáo có vợ tên Thạch Thị P, sinh năm 1989 và 03 người con. Tiền án: không; tiền sự: 01 lần (ngày 02/7/2024 bị Công an thành phố T xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/9/2025; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty TNHH Vật liệu xây dựng Ba Vũ
Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH V2 Vũ: ông Bùi Văn V – Chủ tịch Công ty TNHH V3 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: khóm A, phường N, tỉnh Vĩnh Long.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Thạch Rạch Tà N1, sinh năm 2003 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: khóm B, phường T, tỉnh Vĩnh Long.
2. Anh Thạch Châm R, sinh năm 1983 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: khóm A, phường T, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ, ngày 17/5/2025 Thạch Rạch Tà N1, sinh ngày 27/8/2003, nơi cư trú khóm B, phường T, tỉnh Vĩnh Long, điện thoại rủ bị cáo Thạch Ngọc B, sinh ngày 20/11/1995, nơi cư trú ấp K, xã H, tỉnh Vĩnh Long, đi trộm cắp tài sản (dây điện) bán lấy tiền tiêu xài thì bị cáo B liền đồng ý. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Tà N1 điều khiển xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Fusaco, mang biển số 84V1-0062 chạy đến nhà chở bị cáo B đến kho vật liệu xây dựng “Ba Vũ” toạ lạc khóm S, phường N, tỉnh Vĩnh Long do anh Bùi Văn V, sinh ngày 21/7/1982, nơi cư trú khóm A, phường N, tỉnh Vĩnh Long, là Chủ tịch công ty trách nhiệm hữu hạn V3. Đến nơi, Tà N1 điều khiển xe chạy vào bên trong kho vật liệu xây dựng rồi kêu bị cáo B dùng kìm cắt dây điện có lõi đồng, còn Tà N1 đứng bên ngoài cảnh giới. Khi trộm được tài sản gồm: 4,3 mét dây điện CV6.0; 4 mét dây điện 4 x 25; 3,8 mét dây điện 4 x 35; 7,5 mét dây điện 4 x 10; 3,3 mét dây điện CV70; 01 khuôn đúc gạch vĩa hè thì Tà N1 và bị cáo B bỏ vào bao chở đi, trên đường đi thì bị lực lượng Công an tuần tra phát hiện lập biên bản vụ việc và tạm giữ tài sản trộm nói trên. Qua làm việc, bị cáo B thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản nói trên
Tại kết luận định giá tài sản số 71/KL-ĐGTS, ngày 20/6/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 4,3 mét dây điện CV6.0 (đã qua sử dụng); 4 mét dây điện 4 x 25 (đã qua sử dụng); 3,8 mét dây điện 4 x 35 (đã qua sử dụng); 7,5 mét dây điện 4 x 10 (đã qua sử dụng); 3,3 mét dây điện CV70 (đã qua sử dụng); 01 khuôn đúc gạch vĩa hè (đã hư hỏng không còn sử dụng), với số tiền là 1.123.656 đồng.
Qua xác minh bị cáo Thạch Ngọc B có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản: Vào ngày 02/7/2024, bị cáo B bị Công an thành phố T, tỉnh Trà Vinh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo B chấp hành đóng phạt xong vào ngày 02/7/2024 nên chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính lại thực hiện hành vi trộm cấp tài sản của anh Bùi Văn V có giá trị 1.123.656 đồng.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo Thạch Ngọc B phạm tội gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, quy định tại Điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với hành vi của T Rạch Tà N1 cùng với bị cáo Thạch Ngọc B đi trộm cắp tài sản. Qua định giá tài sản thiệt hại trong vụ án có giá 1.123.656 đồng, Tà N1 chưa có tiền án, tiền sự không đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra đề nghị chuyển hồ sơ đến Trưởng Công an phường N, tỉnh Vĩnh Long, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Thạch Rạch Tà N1 theo đúng quy định.
Đối với 01 chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Fusaco, mang biển số 84V1-0062 được Tà N1 và bị cáo B dùng để làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Qua làm việc, Tà N1 khai xe mô tô của cha ruột tên Thạch Châm R mua xe cũ của người khác chưa làm thủ tục sang tên, việc Tà N1 và bị cáo B điều khiển xe đi trộm cắp tài sản thì anh R hoàn toàn không biết nên không đặt ra vấn đề xử lý. Đồng thời, Cơ quan điều tra đã xác minh nguồn gốc chiếc xe mô tô mang biển số 84V1-0062 của chị Sơn Thị Cẩm L1, sinh năm 1980, nơi cư trú ấp C, xã H, tỉnh Vĩnh Long đứng tên chủ sở hữu. Vào năm 2014, chị L1 đã bán chiếc xe này cho người khác (không rõ nhân thân và địa chỉ cụ thể) với giá 3.000.000 đồng, nhưng không làm hợp đồng mua bán.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho anh Kiều Minh L2 đại diện theo Ủy quyền của Công ty gồm: 4,3 mét dây điện CV6.0; 4 mét dây điện 4 x 25; 3,8 mét dây điện 4 x 35; 7,5 mét dây điện 4 x 10; 3,3 mét dây điện CV70; 01 khuôn đúc gạch vĩa hè. Hiện còn đang tạm giữ 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Fusaco, mang biển số 84V1-0062 và 01 cây kìm kim loại cán vàng xanh.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty trách nhiệm hữu hạn V3 đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo B bồi thường nên không đặt ra vấn đề xử lý.
Tại bản cáo trạng số: 18/CT-VKS-HS ngày 04/12/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, tỉnh Vĩnh Long đã truy tố Thạch Ngọc B về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, tỉnh Vĩnh Long vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo Thạch Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản” như bản cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án và nhân thân của bị cáo. Vị đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điểm a khoản 1 điều 173; điểm h,i,s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Thạch Ngọc B từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Đồng thời đề nghị xử lý tang vật chứng và buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh V, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, tỉnh Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Thạch Ngọc B đã khai nhận:
Vào khoảng 22 giờ ngày 17/5/2025, Thạch Rạch Tà N1 điều khiển xe mô tô biển số 84V1-0062 chở bị cáo Thạch Ngọc B đến kho vật liệu xây dựng “Ba Vũ” toạ lạc khóm S, phường N, tỉnh Vĩnh Long, Tà N1 đứng bên ngoài cảnh giới, bị cáo B đi vào trong dùng kìm cắt trộm dây điện gồm: 4,3 mét dây điện CV6.0; 4 mét dây điện 4 x 25; 3,8 mét dây điện 4 x 35; 7,5 mét dây điện 4 x 10; 3,3 mét dây điện CV70 và 01 khuôn đúc gạch vĩa hè trị giá 1.123.656 đồng. Sau khi chiếm đoạt được tài sản bị cáo Thạch Ngọc B cùng Tà Na trên đường đem đi tiêu thụ thì bị bắt quả tang cùng tang vật.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại và tang vật chứng đã thu giữ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Thạch Ngọc B đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự. Như Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, tỉnh Vĩnh Long đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xét thấy bản cáo trạng của Viện kiểm nhân dân khu vực 10, tỉnh Vĩnh Long truy tố bị cáo Thạch Ngọc B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật, không oan, không sai.
Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản vào ngày 02/7/2024, nay bị cáo lại tiếp tục vi phạm. Do đó, cần xử lý nghiêm đối với bị cáo để nhằm răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên; bị cáo mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại đã nhận lại được tài sản nên không có yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Thạch Rạch Tà N1 vắng mặt tại phiên tòa và không có yêu cầu. Riêng ông Thạch Châm R yêu cầu được nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Fusaco, biển số 84V1-0062 vì không liên quan đến vụ án. Nghĩ đây là yêu cầu chính đáng cần được chấp nhận nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân.
Về vật chứng: 01 cây kìm kim loại cán vàng xanh đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Fusaco, biển số 84V1-0062 màu xanh, số khung: H043 UM002129, số máy: 2FMH40082129. Nghĩ nên tịch thu tiêu hủy và trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Thạch Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1.1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h,i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
1.2. Xử phạt bị cáo Thạch Ngọc B 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại không có yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Thạch Rạch Tà N1, anh Thạch Châm R1 không có yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 cây kìm kim loại cán vàng xanh đã qua sử dụng. Trả lại cho ông Thạch C Rơne 01 xe mô tô nhãn hiệu Fusaco, biển số 84V1-0062, số khung: H043UM002129, số máy: 2FMH40082129.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Thạch Ngọc B nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Án sơ thẩm xử công khai báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND Khu vực 10 – Vĩnh Long; - Phòng THADS Khu vực 10-Vĩnh Long; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Vĩnh Long; - Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh Vĩnh Long; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Sỹ |