- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về áp dụng điều luật, tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c Khoản 1, khoản 5 Điều 249, Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Hữu B 01 ( một ) năm 06 ( sáu) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2025/HS- ST Ngày 23-4 -2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Hương Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến
Ông Nguyễn Đức Hiền
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương- Thư ký Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xãViệt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Ong Văn Chúc- Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 4 năm 2025, tại phòng xét xử trực tuyến điểm cầu trung tâm tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hình sự thụ lý số 56/2025/TLST- HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2025/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Triệu Hữu B, sinh năm 1991; Tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Triệu Đức A; và bà: Triệu Thị M; có vợ: Hoàng Thị L và 02 con lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2018: tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh B ( có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ ngày 17/12/2024, tại đoạn đường giao thông thuộc địa phận tổ dân phố Bẩy, phường Tăng Tiến, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, Công an phường Tăng Tiến tiến hành dừng xe mô tô do Triệu Hữu B, sinh năm 1991, trú tại: Thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, chỗ ở: Tổ dân phố T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang điều khiển để kiểm tra an ninh. Công an phát hiện Báo nuốt vật ngậm trong miệng nên tiến hành kiểm tra người và phương tiện của Báo. B2 khai nhận vừa nuốt ma túy vào trong bụng, số ma túy này B3 để sử dụng; đồng thời Báo tự nguyện giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 11 màu đen đã qua sử dụng, được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu “ĐT”; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu vàng, biển số 98B1 -167.81. Công an phường T đưa Triệu Hữu B đến Trung tâm y tế thị xã V kiểm tra và sử dụng thiết bị y tế thu số ma túy Báo khai đã nuốt. Kết quả, thu trong dạ dày của Báo: 01 mảnh ni lon bên trong đựng 03 gói giấy bạc, trong mỗi gói giấy bạc đều chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy, được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu “TG”. Cùng ngày 17/12/2024, Công an phường T bàn giao Báo cùng hồ sơ, vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an tỉnh B) để giải quyết theo thẩm quyền.
Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Triệu Hữu B tại phòng trọ đang thuê trọ ở tổ dân phố T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Kết quả khám xét: Thu giữ tại mặt chiếu trên giường ngủ trong phòng trọ 01 mảnh ni lon màu hồng, bên trong đựng: chất cục bột màu trắng; 02 gói giấy màu trắng hồng, bên trong các gói đều chứa chất cục bột màu trắng; 02 gói giấy bạc, bên trong các gói đều chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy; Thu giữ trong giỏ nhựa màu xanh ở góc phòng trọ 01 gói giấy bạc, bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy, toàn bộ được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX1”; Thu giữ tại mặt sàn bằng gỗ kê trên đỉnh nóc nhà vệ sinh trong phòng trọ: 01 cân điện tử màu trắng bạc, có chữ “Cân điện tử V”.
Cơ quan điều tra kiểm tra việc sử dụng ma túy đối với B4, kết quả dương tính với chất ma tuý Heroin; kiểm tra điện thoại di động thu giữ, không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi phạm tội.
Ngày 18/12/2024, Cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh B giám định chất ma tuý đối với số vật chứng thu giữ được niêm phong trong phong bỳ ký hiệu “TG” và “KX1”.
Tại bản kết luận giám định số 2748/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K- Công an tỉnh B kết luận:
“5.1 Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “TG”, được niêm phong gửi giảm định:
- Trong 01 (gói) ni lon màu hồng: Chất cục bột màu trắng đựng trong 03 (ba) gói giấy bạc đều là ma tuý, loại Heroine, tổng khối lượng 0,112 gam.
5.2 Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KX1”, được niêm phong gửi giảm định:
- Trong 01 (gói) ni lon màu hồng:
+ Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy màu trắng hồng và 01 (một) gói giấy bạc đều là ma tuý, loại Heroine, tổng khối lượng 0,121 gam.
+ Chất cục bột màu trắng là ma tuý, loại Heroine, tổng khối lượng 0,040gam.
- Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy bạc đều là ma tuý, loại Heroine, tổng khối lượng 0,088 gam.”
Quá trình điều tra, Triệu Hữu B khai : Triệu Hữu B là người sử dụng chất ma tuý Heroine; Báo thuê phòng ở trọ một mình tại tổ dân phố T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 20 giờ ngày 12/11/2024, B đi xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu vàng, biển số 98B1 -167.81 đến khu nhà cao tầng, chỉ nhớ ở thành phố B, còn vị trí cụ thể không biết, tìm mua của một người đàn ông không biết họ tên, địa chỉ 01 gói ni lon màu hồng, bên trong đựng ma túy Heroine với giá 3.000.000 đồng, mục đích để sử dụng dần. B5 gói ma túy mua được vào trong người rồi điều khiển xe mô tô về phòng trọ. Tại phòng trọ, B6 nhỏ số ma túy Heroine mua được vào các gói giấy bạc, gói giấy màu trắng hồng khác nhau rồi để trên giường ngủ và trong giỏ nhựa màu xanh trong phòng trọ để tiện sử dụng dần. Báo mang một phần ma túy Heroine ra bãi đất trống ở cạnh phòng trọ tự sử dụng hết. Khoảng 12 giờ ngày 17/12/2024, B lấy 03 gói giấy bạc đựng ma túy Heroine đã chia trước đó cho vào 01 gói ni lon màu hồng ngậm trong miệng, đeo khẩu trang. Báo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 98B1 -167.81 đi chơi, khi nào cần thì bỏ ma túy đem theo ra tự sử dụng. Báo vừa điều khiển xe mô tô đến đoạn đường giao thông ở địa phận tổ dân phố B, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang thì Công an phường T dừng xe kiểm tra hành chính. Báo nuốt số ma túy ngậm trong miệng vào trong bụng. Sau đó, B2, khai nhận với Công an về việc vừa nuốt ma túy. Công an đưa Báo đến Trung tâm Y tế thị xã V kiểm tra và thu giữ được trong dạ dày của Báo các gói ma túy đã nuốt. Công an khám xét phòng ở trọ của Báo thu giữ được toàn bộ số ma túy Heroine còn lại cất giấu trong phòng, mục đích để sử dụng dần nhưng chưa sử dụng hết.
Cáo trạng số 61/CT- VKS ngày 13 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân
dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo Triệu Hữu B về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng về tội danh Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đồng ý kết quả giám định.
Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 cân tiểu ly tạm giữ khi khám xét phòng trọ của bị cáo.
Kết thúc thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên giữ
quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố, sau khi đánh giá chứng cứ, đề nghị:
Áp dụng điểm c Khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Hữu B từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 17/12/2024. Phạt bổ sung 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì lần lượt có ký hiệu “TG” và “KX1” được niêm phòng bên trong chứa ma túy hoàn lại sau giám định lần lượt là 0,086 gam và 0,205 gam ma túy heroine, 01 cân điện tử màu trắng bạc. -Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 11 màu đen, 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu vàng đen biển kiểm soát 98B1- 167.81, nhưng được tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo không có ý kiến tranh luận đề nghị của Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, phù hợp với biên bản khám xét ngày 17/12/2024 , phù hợp với kết luận giám định số 2748/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, phù hợp với tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra thu thập được, có đủ cơ sở kết luận: Triệu Hữu B là người sử dụng ma túy Heroine. Khoảng 12 giờ ngày 17/12/2024, tại đoạn đường giao thông ở tổ dân phố B, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, khi bị Công an phường T kiểm tra hành chính, Triệu Hữu B đã nhuốt tổng cộng 0,112 gam ma túy Heroine đựng trong giấy bạc đang ngậm trong miệng vào trong dạ dày. Sau đó, B2 khai nhận với Công an về việc cất giấu ma túy trong miệng rồi nhuốt vào trong dạ dày. Công an phường T đưa Báo đến Trung tâm y tế thị xã V sử dụng thiết bị y tế thu giữ toàn bộ số ma túy nêu trên, rồi bàn giao cho Cơ quan điều tra Công an thị xã V. Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp phòng ở trọ của Báo đang thuê trọ tại tổ dân phố T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang đã thu giữ được trong phòng tổng cộng 0,249 gam ma túy Heroine còn lại do B5 trước đó, cùng tài sản đồ vật khác có liên quan. Tổng khối lượng ma túy Heroine, B3 trái phép là 0,361 gam, mục đích chỉ để tự sử dụng.
Hành vi của bị cáo Triệu Hữu B có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Cáo trạng số 61/CT- VKS ngày 13 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo Triệu Hữu B về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo Triệu Hữu B là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà N về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Ma túy là chất gây nghiện và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và là nguyên nhân lây truyền căn bệnh HIV, AIDS. Với mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tù đối với bị cáo để mang tính răn đe, phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; sau khi bị phát hiện đầu thủ nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có tài sản là xe mô tô và 01 điện thoại di động, ngoài hình phạt chính, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Sau khi xem xét hành vi, động cơ, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo phạm tội nghiêm trọng, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Triệu Văn B1, Công an thị xã V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho B1, do Báo không biết là ai, không nhớ vị trị mua nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra và đề nghị xử lý.
Đối với chủ nhà trọ, không biết Báo tàng trữ trái phép chất ma túy trong phòng trọ nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. [9] Về vật chứng:
02 phong bì lần lượt có ký hiệu “TG” và “KX1” được niêm phòng bên trong chứa ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành; 01 cân điện tử màu trắng bạc bị cáo tự nguyện tịch thu tiêu hủy, căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy. [9.2] 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 11 màu đen, được niêm phong trong phong bì ghi tên” điện thoại Triệu Hữu B” 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu vàng đen biển kiểm soát 98B1- 167.81, số máy 5C64531147, số khung, RLCS5C640BY531141là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại bị cáo nhưng được tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án. [10] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. [11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1. Về áp dụng điều luật, tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c Khoản 1, khoản 5 Điều 249, Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Hữu B 01 ( một ) năm 06 ( sáu) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 17/12/2024. Phạt bổ sung 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước. 2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. 2.1 Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì lần lượt có ký hiệu “TG” và “KX1” được niêm phòng bên trong chứa ma túy hoàn lại sau giám định, 01 cân điện tử màu trắng bạc. 2.2.Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 11 màu đen, được niêm phong trong phong bì ghi tên “điện thoại Triệu Hữu B” 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu vàng đen biển kiểm soát 98B1- 167.81, số máy 5C64531147, số khung, RLCS5C640BY531141 nhưng được tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án. ( Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23 tháng 4 năm 2025 giữa Công an thị xã V và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên) 3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền phạt, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế theo quy định tại điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Phòng HS Công an tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - CCTHADS thị xã Việt Yên; - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang; - CQCSĐT Công an tỉnh Bắc Giang; - CQTHAHS Công an tỉnh Bắc Giang; - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác; - UBND xã Nhất Tiến; - Lưu HS- VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Hƣơng |