vanban.org

Bản án 68/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 09/07/2025 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Thanh H được ly hôn chị Nghiêm Thị Mỹ H.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia A, sinh ngày 10/6/2017 cho anh Nguyễn Thanh H là người trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Giao cháu Nguyễn Quỳnh T, sinh ngày 25/11/2018 cho chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Ban an HNGD Nguyen Thanh H va chi Nghiem Thi My H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Anh Nguyễn Thanh H được ly hôn chị Nghiêm Thị Mỹ H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 09–07-2025
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Lương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hồng Phương

Ông Ngô Văn Bê

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh không tham gia phiên toà.

Ngày 09 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 205/2025/TLST-HNGĐ ngày 17/06/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” của Tòa án nhân tỉnh Bắc Giang.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2025/QĐXX-ST ngày 19/06/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh ngày 17/10/1992 (vắng mặt)

Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx

Nơi cư trú: số nhà 35 đường C, phường B, tỉnh Bắc Ninh.

Anh H ủy quyền cho anh Đặng Thái L, sinh năm 1985; Nơi cư trú: khu dân cư T, phường C, thành phố Hải Phòng giao nhận tài liệu với Tòa án.

2. Bị đơn: Chị Nghiêm Thị Mỹ H, sinh ngày 16/02/1995 (vắng mặt)

Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx

Nơi cư trú: số nhà 35 đường C, phường B, tỉnh Bắc Ninh. Hiện đang lao động tại Đài Loan.

Chị H ủy quyền cho chị Vũ Thị C, sinh năm 1990; Nơi cư trú: khu dân cư T, phường L, thành phố Hải Phòng giao nhận tài liệu với Tòa án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn anh Nguyễn Thanh H trình bày:

Về hôn nhân: Trước khi kết hôn anh, chị H được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 18/3/2016 tại Ủy ban nhân dân phường T (nay là phường B), tỉnh Bắc Ninh. Sau kết hôn chị H về nhà anh làm dâu, vợ chồng chung sống hòa thuận. Quá trình chung sống giữa anh và chị H có nhiều điểm không hợp nhau về tính cách, lối sống vì vậy vợ chồng thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn cãi nhau. Đến cuối năm 2023 thì giữa anh và chị H phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do khoảng tháng 9/2023 để phát triển kinh tế gia đình thì chị H đã đi sang Đài Loan lao động, thời gian đầu thì chị H còn gọi điện về nhà nói chuyện cùng anh nhưng chỉ một thời gian sau thì ít dần vì mỗi lần nói chuyện với chị H thì anh và chị H cảm thấy giữa vợ chồng không có điểm chung, mỗi lần nói chuyện với nhau thì vợ chồng lại to tiếng vì vậy giữa anh và chị H không liên lạc với nhau nữa. Chị H đi Đài Loan từ tháng 9/2023 đến nay vẫn chưa về nước lần nào, vợ chồng ly thân từ thời gian đó cho đến nay. Do anh và chị H ly thân đã lâu, mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục được nên anh làm đơn này đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H

Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là cháu Nguyễn Gia A, sinh ngày 10/6/2017 và cháu Nguyễn Quỳnh T, sinh ngày 25/11/2018. Sau ly hôn anh đề nghị:

- Giao cháu A cho anh là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

- Giao cháu T cho chị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Nhưng tạm giao cháu T cho anh chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị H về nước sinh sống.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh, chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Anh, chị H không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai chị Nghiêm Thị Mỹ H (có xác nhận của Văn phòng Kinh tế

- Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc) trình bày:

Về hôn nhân: Về quá trình tìm hiểu đi đến hôn nhân, quá trình chung sống, nguyên nhân, thời gian mâu thuẫn của vợ chồng chị trình bày giống anh H đã trình bày. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.

Về con chung: chị và anh H có 02 con chung là cháu Nguyễn Gia A, sinh ngày 10/6/2017 và cháu Nguyễn Quỳnh T, sinh ngày 25/11/2018. Sau ly hôn chị đề nghị:

- Giao cháu A cho anh H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

- Giao cháu T cho chị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Nhưng tạm giao cháu T cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị về nước sinh sống.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị, anh H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: chị, anh H không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Cháu Nguyễn Gia A, Nguyễn Quỳnh T trình bày: Cháu và em hiện đang sinh sống cùng bố tại số nhà 35 đường C, phường B, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình chung sống chúng cháu được bố mẹ chăm sóc cẩn thận, chu đáo, được đưa đi học đầy đủ, được nấu cơm cho ăn, chúng cháu phát triển ổn định cả về thể chất lẫn tinh thần. Mẹ chúng cháu hiện vẫn sinh sống và làm việc tại nước ngoài. Cháu A muốn ở với bố nếu bố mẹ ly hôn. Cháu T muốn ở cùng mẹ nếu bố mẹ ly hôn. Cháu T đồng ý ở với bố trong thời gian mẹ ở nước ngoài.

Tại phiên tòa, anh H, chị H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của anh H, chị H và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp: Anh H khởi kiện xin ly hôn chị H và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh H là nguyên đơn, chị H là bị đơn cùng có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Ninh. Chị H hiện đang lao động tại Đài Loan. Do đó, đây là vụ án có đương sự ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

. Về việc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh không tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy: Vụ án này Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh không tiến hành thu thập chứng cứ. Do vậy, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh không tham gia phiên tòa là đúng quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về hôn nhân: Anh H và chị H kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 18/3/2016 tại Ủy ban nhân dân phường T (nay là phường B), tỉnh Bắc Ninh. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên chị đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn chị H. Chị H cũng đồng ý ly hôn với anh H.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh H với chị H, Hội đồng xét xử thấy: Tại bản tự khai anh H, chị H đều xác định vợ chồng đã ly thân nhau một thời gian dài. Mặc dù, anh H, chị H đã chủ động nói chuyện để vợ chồng hàn gắn tình cảm và hai bên gia đình cũng đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không được. Do đó, Hội đồng xét xử xác định chị H, anh H không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H với chị H là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: Anh H và chị H có 02 con chung là cháu Nguyễn Gia A, sinh ngày 10/6/2017 và cháu Nguyễn Quỳnh T, sinh ngày 25/11/2018. Hiên nay 02 con chung đang sinh sống cùng anh H. Sau ly hôn anh H, chị H đều đề nghị giao cháu A cho anh H là người trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu T cho chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị H về nước sinh sống. Anh H đồng ý nuôi dưỡng cháu T trong thời gian chị H ở nước ngoài.

Xét yêu cầu giao nuôi con chung của anh H, chị H, Hội đồng xét xử thấy: chị H, anh H đều thống nhất giao cháu A cho anh H là người trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu T cho chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị H về nước sinh sống. Anh H đồng ý nuôi dưỡng cháu T trong thời gian chị H ở nước ngoài. Cháu A, Trang đều đồng ý với quan điểm của anh H, chị H. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu giao nuôi con chung sau ly hôn của anh H, chị H là phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Thanh H, chị Nghiêm Thị Mỹ H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trường hợp anh Nguyễn Thanh H, chị Nghiêm Thị Mỹ H có nguyện vọng thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh H, chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về tài sản, công nợ chung: Do anh H, chị H không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Anh Nguyễn Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.

. Về quyền kháng cáo:

Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, anh H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có mặt tại Việt Nam thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự, chị H đang lao động tại nước ngoài không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

1. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Thanh H được ly hôn chị Nghiêm Thị Mỹ H.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia A, sinh ngày 10/6/2017 cho anh Nguyễn Thanh H là người trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Giao cháu Nguyễn Quỳnh T, sinh ngày 25/11/2018 cho chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nhưng tạm giao cháu T cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị H về nước sinh sống.

Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Thanh H, chị Nghiêm Thị Mỹ H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Thanh H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005516 ngày 17/06/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang (nay là Bắc Ninh). Xác nhận anh Nguyễn Thanh H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo bản án:

Anh Nguyễn Thanh H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Chị Nghiêm Thị Mỹ H có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ