vanban.org

Bản án 68/2025/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ D về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

Buộc anh Nguyễn Ngọc N giao cháu Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 02/8/2018 cho chị Trần Thị Mỹ D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Y đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng nuôi con: chị Trần Thị Mỹ D không yêu cầu nên không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "tran thi my dung - nguyen ngoc nhieu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ D về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2025/HNGĐ-ST
Ngày 30/5/2025
V/v: “ Tranh chấp yêu cầu thay đổi
người nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Mỹ Trang Ông Bùi Ngọc Thân

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Châu Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên. Ngày 30/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 636/2024/TLST-HNGĐ ngày 15/10/2024 về “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14/5/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mỹ D, sinh năm 1990 (Có mặt). Địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai

- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1986 (Có mặt). Địa chỉ: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 16/7/2024, trong quá trình làm việc và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ D trình bày:

Chị D và anh N là vợ chồng, có tự nguyện đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, nên đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 42/2023/QĐST - HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Theo đó, về con chung giao cháu Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 01/11/2010, Nguyễn Ngọc D1, sinh ngày 08/02/2020 cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 02/8/2018 cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên, anh N ngăn cản việc thăm con của chị, không chăm sóc con chu đáo, để cháu ruột của anh N là Nguyễn Ngọc Đặng xâm H1 tình dục, chị đã đón cháu Y về ở với chị từ tháng 6/2024 cho đến nay. Vì vậy, để đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng tốt nhất cho cháu Y, chị yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, buộc anh N giao lại cháu Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 02/8/2018 cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời chị không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung. Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác. * Trong quá trình làm việc, tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Ngọc N trình bày:

Anh và chị D đã ly hôn Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 42/2023/QĐST - HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Theo quyết định nói trên thì anh được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 02/8/2018. Từ đó đến nay, anh vẫn chăm sóc cháu Y chu đáo, đầy đủ, cháu vẫn phát triển bình thường. Vào khoảng tháng 3/2024 anh có đi làm ăn xa, 1 tuần về nhà 1 lần và có gửi cháu Y cho cháu ruột của anh là Nguyễn Ngọc Đ chăm sóc, đưa đi học giúp. Tuy nhiên, cháu Y đã bị Đặng xâm H1 và Đ đã bị bắt. Hiện nay anh đã về nhà ở hẳn để chăm sóc con, không đi làm xa nữa. Anh nhận thấy môi trường sống của nhà chị D không tốt, không đảm bảo cho cháu Y. Hơn nữa, chị D đang làm công nhân với thu nhập thấp không đủ điều kiện về tài chính để nuôi dạy 03 người con và mẹ già thường xuyên đau ốm nên anh N không đồng ý thay đổi quyền nuôi con. Anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 02/8/2018, không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con. Anh cam kết sẽ không để cháu bị xâm hại một lần nữa. Ngoài ra, anh không có ý kiến gì khác. * Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc.

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa xét xử theo trình tự sơ thẩm cho đến khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Mỹ D về việc thay đổi người trực tiếp 2 nuôi con sau khi ly hôn. Buộc anh Nguyễn Ngọc N giao cháu Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 02/8/2018 cho chị Trần Thị Mỹ D trực tiếp nuôi dưỡng. Chị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: anh Nguyễn Ngọc N phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: chị Trần Thị Mỹ D có đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Ngọc Y đối với anh Nguyễn Ngọc N. Do đó, quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình. Quan hệ pháp luật này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về tư cách tham gia tố tụng: chị D có đơn khởi kiện, do đó chị D tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn. Anh N là người bị chị D khởi kiện để yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn. Do đó, anh N tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự .

Về nội dung:

Xét yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của chị D, Hội đồng xét xử nhận thấy: Anh N là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 02/8/2018 theo như thỏa thuận của các bên. Trong quá trình nuôi dưỡng, anh N cũng đảm bảo đủ một số điều kiện về vật chất nuôi dưỡng và giáo dục con. Tuy nhiên, trong quá trình cháu Y sống với anh N, anh N đã gửi cháu Y cho Nguyễn Ngọc Đ là anh em chú bác với cháu Y để nhờ Đ chở đi học và chăm sóc ăn uống thì cháu Y đã bị Đặng xâm H1 tình dục, vụ án đã được xét xử ngày 11/3/2025 và đã có bản án số 30/2025/HS-ST của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” và tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” với mức án là 24 năm tù giam đối với Nguyễn Ngọc Đặng . Việc này ảnh hưởng đến tâm lý và cuộc sống tinh thần của cháu Y, là vi phạm quyền và nghĩa vụ của cha mẹ theo quy định tại Điều 69 Luật hôn nhân và gia đình. Như vậy, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình thì yêu cầu khởi kiện của chị D về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với con chung là cháu Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 02/8/2018 là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử giao Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 02/8/2018 cho chị Trần Thị Mỹ D được trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại các Điều 70, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. 3

Về cấp dưỡng nuôi con: chị D không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Do yêu cầu của chị D được Tòa án chấp nhận nên anh N phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 235; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 69; 70; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 24, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ D về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

Buộc anh Nguyễn Ngọc N giao cháu Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 02/8/2018 cho chị Trần Thị Mỹ D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Y đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị Trần Thị Mỹ D không yêu cầu nên không giải quyết.

Anh Nguyễn Ngọc N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Ngọc N phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho chị Trần Thị Mỹ D 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0011500 ngày 11/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc.

3. Quyền kháng cáo: Chị D, anh N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi 4 hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ