- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Hảo - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn Điều 135, Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng h nh sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TH NH PH H TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68 /2024/HS-ST Ngày 28/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đà Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nga
Bà Nguyễn Thị Mai Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thái Bình - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ước - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hòa B nh xét xử sơ thẩm công khai vụ án h nh sự thụ lý số: 53/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS, ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Văn H, tên g i khác: không sinh ngày 02/9/1998; Giới tính: Nam; nơi cư trú: xóm O, xã S, huyện T, tỉnh Hòa B nh; nghề nghiệp: Lao động tự do; tr nh độ văn hoá: 1/12; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn B nh, sinh năm 1977 và bà Bùi Thị O, sinh năm 1980; vợ, con: không có; Gia đ nh bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đ nh.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị giam gi t ngày 22/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm gi Công an thành phố H, tỉnh Hòa B nh được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
Bị hại chị Bùi Thị L, sinh năm 1987; trú tại: xóm Tr, xã Q, THÀNH PHỐ H, tỉnh Hòa B nh v ng mặt có đơn đề nghị xét xử v ng mặt tại phiên tòa .
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Bùi Văn S, sinh năm 1997; trú tại: xóm O, xã S, huyện T, tỉnh Hòa Bình có mặt ;
+ Chị Hà Thị Th, sinh năm 2003; trú tại: xóm O, xã S, huyện T, tỉnh Hòa Bình có mặt ;
+ Bà Bùi Thị O, sinh năm 1980; trú tại: xóm O, xã S, huyện T, tỉnh Hòa B nh có mặt ;
- Người làm chứng:
+ Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1985; trú tại: Thôn Bối, xã Yên Trung, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội v ng mặt không có lý do)
+ Anh Bùi Văn S, sinh năm 1997; trú tại: xóm O, xã S, huyện T, tỉnh Hòa Bình (đ ng thời là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt ;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng 11/12/2023, Bùi Văn H sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 28E1-16985 chở Bùi Văn S đi t Hà Nội về nhà ở xã S, huyện T, tỉnh Hòa B nh. Trên đường đi, S nh n tin cho vợ là chị Hà Thị Th đang ở nhà chuyển vào tài khoản của H số tiền 100.000 (một trăm ngh n đ ng để cho H đổ xăng xe. Khi đến cây xăng Trung Mường, Thộc xóm Tr, xã Q, thành phố H, tỉnh Hòa B nh th H rẽ vào để đổ xăng. Tại đây, H nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản bằng h nh thức chuyển tiền qua ứng dụng của ngân hàng trên điện thoại với số tiền nhỏ hơn thực tế để nhận số tiền lớn hơn. Thấy đông khách, H đoán nhân viên bán xăng sẽ không xem chi tiết cụ thể số tiền là bao nhiêu mà chỉ cần thấy báo có tin nh n chuyển tiền. Do đó, sau khi d ng xe H bảo chị Bùi Thị L là nhân viên bán xăng bán cho H 60.000 sáu mươi ngh n đ ng tiền xăng bơm vào b nh xe mô tô. H trả tiền mặt cho chị Lan r i nói với chị Lan: chị có tiền mặt không để em chuyển khoản cho chị em lấy tiền mặt. Chị Lan đ ng ý th H nói là chuyển 3.600.000 ba triệu sáu trăm ngh n đ ng. H chuyển trên điện thoại qua số tài khoản chung với số điện thoại 0976835593 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội với số tiền 3.600 ba ngh n sáu trăm đ ng. Khi báo giao dịch chuyển tiền thành công H giơ nhanh h nh ảnh cho chị Lan xem r i cất điện thoại. Chị Lan đếm số tiền 3.600.000 ba triệu sáu trăm ngh n đ ng đưa cho H, có gi lại lệ phí chuyển khoản 10.000 đ ng. TH cầm tiền cất vào túi áo r i điều khiển xe chở S đi về hướng thành phố H. Khi về đến nhà, H nói với S là nhân viên cây xăng đưa th a tiền nên đưa cho S số tiền 1.400.000 một triệu b n trăm ngh n đ ng, số tiền còn lại H sử dụng chi tiêu cá nhân. Đến ngày 22/12/2023, H lên công an thành phố H đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Về vật chứng của vụ án, quá tr nh điều tra đã Th gi :
- 01 xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 28E1-16985 kèm theo giấy tờ xe là của bà Bùi Thị O là mẹ của bị cáo H. Bà O là chủ sở h u. Xét thấy không ảnh hưởng đến quá tr nh điều tra, ngày 31/01/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra quyết định xử lý vật chứng và trao trả cho chủ sở h u hợp pháp, hiện tại bà O đang quản lý sử dụng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 Plus, màu vàng - h ng. Số IMEI 356715086163337, số IMEI 35671508616333, t nh trạng đã qua sử dụng, được chuyển theo vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: ngày 23/12/2023, bà Bùi Thị O là mẹ của bị cáo H đã tự nguyện kh c phục hậu quả cho bị hại là chị Bùi Thị L số tiền 3.600.000 ba triệu sáu trăm ngh n đ ng, chị Lan đã nhận đủ số tiền trên và không có ý kiến g thêm. Ngày 07/02/2024, tại cơ quan điều tra S đã tự nguyện nộp lại số tiền 1.400.000 một triệu b n trăm ngh n đ ng và bà O đã nhận lại số tiền này.
Cáo trạng số 57/CT-VKSTP ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoà B nh truy tố Bùi Văn H về tội “L a đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật H nh sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H gi nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đ ng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Hảo phạm “Tội l a đảo chiếm đoạt tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 điều 51; điều 38 BLHS xử phạt: Bùi Văn H mức án t 06 sáu đến 09 ch n tháng tù; không áp dụng h nh phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch Th, phát mại, sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 Plus, màu vàng - h ng. Số IMEI 356715086163337, số IMEI 35671508616333, t nh trạng đã qua sử dụng, được chuyển theo vụ án.
kiến của bị cáo: Tại giai đoạn điều tra bị cáo khai Bùi Văn S ngày 09/12/2023 đã hướng d n và cho Hảo xem youtube về cách l a đảo tiền thông qua việc đổi tiền t ứng dụng điện thoại tại cây xăng, là người đã bàn bạc với Hảo, xúi giục Hảo để l a đảo rút tiền. Tuy nhiên, tại phiên Tòa Hảo thay đổi lời khai S không tham gia vào việc phạm tội của bị cáo, chỉ có một m nh Hảo tự nghĩ ra và thực hiện hành vi l a đảo. Việc chia tiền cho S là do cùng đi về nên tự nguyện chia tiền mà không cho S biết về hành vi phạm tội của m nh.
iến của người l m ch ng đ ng thời l người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Quá tr nh xét hỏi, người làm chứng đ ng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn S có ý kiến xác nhận do lòng tham nên đã nhận số tiền 1.400.000 một triệu b n trăm ngh n đ ng do Hảo chiếm đoạt được nhưng đã nói với S do người bán xăng chuyển khoản th a, S không được tham gia bàn bạc, không tham gia vào thực hiện hành vi l a đảo cùng Hảo, không được nghe nh n thấy Hảo l a đảo do khi Hảo chuyển tiền đứng khoảng cách xa không để ý đến Hảo.
Bị hại v ng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị xét xử v ng mặt xác nhận về hành vi l a đảo chiếm đoạt tài sản của Bùi Văn Hảo, xác nhận người đàn ông đi cùng Hảo không thấy tham gia vào việc l a đảo chiếm đoạt tài sản. Bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo Bùi Văn Hảo và không yêu cầu g về trách nhiệm dân sự do đã nhận lại 3.600.000 ba triệu sáu trăm ngh n đ ng b i thường thiệt hại, kh c phục hậu quả t bà Bùi Thị O mẹ bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Bùi Thị O xác nhận đã thay bị cáo đứng ra b i thường kh c phục hậu quả toàn bộ thiệt hại mà bị cáo Bùi Văn Hảo con bà đã gây ra. Không yêu cầu Tòa án giải quyết về trách nhiệm dân sự với bị hại - chị Nguyễn Thị Lan và với bị cáo Bùi Văn Hảo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Hà Thị Thanh xác nhận là người đã nhờ bạn chuyển số tiền 100.000 một trăm ngh n đ ng vào tài khoản của Bùi Văn Hảo theo yêu cầu của ch ng chị Bùi Văn S, do S bảo trả tiền xăng cho Hảo.
Phần tranh luận: Bị cáo và nhưng người tham gia tố tụng không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của m nh, xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr nh tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng H nh sự. Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này là hợp pháp.
Về hành vi bị cáo đã thực hiện: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của m nh, lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng Th được; cũng như các tài liệu, chứng cứ cơ quan công an đã điều tra xác minh trong h sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở xác định: Bùi Văn H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm h nh sự, do muốn có tiền để chi tiêu cá nhân nên ngày 11/12/2023 tại cây xăng Tr thuộc xã Q, thành phố H, tỉnh Hòa B nh, bằng thủ đoạn gian dối, lợi dụng việc nhân viên bán xăng không kịp xem cụ thể số tiền nhận được, mặc dù trong tài khoản không có số tiền bằng số tiền cần chiếm đoạt nhưng v n cố ý nhờ nhân viên bán xăng đổi tiền mặt bằng h nh thức chuyển tiền qua ứng dụng ngân hàng trên điện thoại, để chuyển khoản số tiền 3.600 đ ng nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 3.600.000 ba triệu sáu trăm ngh n đ ng của chị Bùi Thị L. Do vậy, Bùi Văn Hảo đã chuyển khoản cho bị hại số tiền 3.600 ba ngh n sáu trăm đ ng để lợi dụng sự bất cẩn, không để ý chi tiết của bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản. Số tiền thực tế mà bị cáo H chiếm đoạt của bị hại là 3.596.400 (Ba triệu năm trăm ch n mươi sáu ngh n b n trăm) đ ng. Hành vi của Bùi Văn H là dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác, đủ yếu tố cấu thành tội “L a đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 điều 174 Bộ luật H nh sự 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo tuy là tội phạm ít nghiêm tr ng v số tiền 3.596.400 Ba triệu năm trăm ch n mươi sáu ngh n b n trăm) đ ng chưa phải là số tiền lớn, nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở h u tài sản của người khác, là quan hệ xã hội được pháp luật H nh sự bảo vệ. Bị cáo Bùi Văn H là người có đầy đủ năng lực pháp luật, nhận thức đầy đủ hành vi, tự ý thức được hành vi của m nh là vi phạm pháp luật nhưng v n cố ý thực hiện, bị cáo phải chịu trách nhiệm h nh sự về hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện cần áp dụng h nh phạt phù hợp, đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ng a tội phạm chung.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự:
Về t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự: Quá trình điều tra bị cáo đã tác động gia đ nh kh c phục toàn bộ thiệt hại; quá tr nh điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội lần đầu Thộc trường hợp ít nghiêm tr ng là nh ng t nh tiết quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật h nh sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo là các t nh tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật h nh sự. Hội đ ng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo khi lượng h nh.
Về t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự: bị cáo không có t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự.
Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 8 Plus, màu vàng - h ng. Số IMEI 356715086163337, số IMEI 35671508616333, t nh trạng đã qua sử dụng, được chuyển theo vụ án. Xét thấy đây tài sản Thộc sở h u riêng của bị cáo, là công cụ, phương tiện được bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch Th, phát mại, sung công quỹ Nhà nước.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 28E1-16985 (kèm theo giấy tờ xe đã Th gi . Quá tr nh điều tra Th thập tài liệu chứng minh chiếc xe trên là của chị Bùi Thị O là mẹ của bị cáo H, sinh năm 1980, trú tại xóm O, xã S, huyện T, tỉnh Hòa B nh. Chị O không biết và không liên quan đến hành vi “L a đảo chiếm đoạt tài sản” của Bùi Văn H. Chị O có đơn xin lại tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định xử lý vật chứng số 273 ngày 29/01/2024 trả lại một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 28E1-16985 kèm theo giấy tờ xe cho chủ sở h u hợp pháp là chị Bùi Thị O là đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa chị Bùi Thị O cũng xác nhận đã nhận lại tài sản trên nguyên vẹn, không có ý kiến g . Do vậy Hội đ ng xét xử không xem xét giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự:
Ngày 07/02/2024, tại cơ quan điều tra Bùi Văn S đã tự nguyện nộp lại số tiền 1.400.000 một triệu b n trăm ngh n đ ng S xác nhận được Hảo chia cho mà không biết là tiền Hảo phạm tội mà có và chị Bùi Thị O mẹ bị cáo đã nhận lại số tiền này để kh c phục hậu quả cho bị hại. Bùi Văn S không có ý kiến hay yêu cầu g về trách nhiệm dân sự nên Hội đ ng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.
Ngày 23/12/2023, chị Bùi Thị O là mẹ đ của bị cáo H đã tự nguyện kh c phục hậu quả cho bị hại là chị Bùi Thị L số tiền 3.600.000 ba triệu sáu trăm ngh n đ ng, chị Lan đã nhận số tiền trên th a 3.600đ ng và không có ý kiến g thêm. Chị O không yêu cầu bị cáo phải trả lại chị số tiền trên, không đề nghị Hội đ ng xét xử giải quyết về trách nhiệm dân sự gi a chị O, bị cáo và chị Lan. Do vậy Hội đ ng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.
Tại phiên toà, bị hại v ng mặt và đã có đơn đề nghị xét xử v ng mặt. Chị Bùi Thị L cũng xác nhận đã nhận lại toàn bộ số tiền đã bị Hảo chiếm đoạt, không có yêu cầu b i thường g khác, Hội đ ng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.
Về hành vi của cá nhân khác trong vụ án:
Quá tr nh điều tra, Bùi Văn H khai là Bùi Văn S đã hướng d n, bàn bạc với H để chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, quá tr nh đấu tranh, lấy lời khai, đối chất, Bùi Văn S không th a nhận mà chỉ khai nhận đi nhờ xe của H và bảo vợ chuyển khoản số tiền 100.000 một trăm ngh n đ ng để cho Hảo đổ xăng xe và khi cầm 1.400.000 một triệu b n trăm ngh n đ ng H nói là tiền do được trả nhầm, không biết tài khoản của H có bao nhiêu tiền, không tham gia vào việc chuyển tiền của H. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không chứng minh được hành vi của Bùi Văn S có dấu hiệu đ ng phạm như lời khai của bị cáo Bùi Văn Hảo.
Quá tr nh điều tra xác định S đi nhờ xe mô tô của H, việc S bảo vợ chuyển tiền vào tài khoản cho H là tự nguyện góp tiền xăng xe là thỏa Thận dân sự gi a bị cáo và S. Đối với lý do nhận số tiền 1.400.000 một triệu b n trăm ngh n đ ng th S khai là H nhận được tiền trả nhầm của nhân viên cây xăng nên cho S, không biết tài khoản của H có bao nhiêu tiền, không tham gia vào việc bàn bạc hay chuyển tiền l a đảo của H. Thao tác chuyển khoản chỉ do một m nh H thực hiện trên chính chiếc điện thoại của H. Bản thân S không th a nhận có bất kỳ hành vi nào liên quan đến hành vi phạm tội của H, chỉ có lời khai của H, không có chứng cứ chứng minh. Do đó, không có đủ căn cứ v ng ch c để xác định vai trò đ ng phạm của S. Số tiền 1.400.000 một triệu b n trăm ngh n đ ng S cũng đã tự nguyện trả lại cho gia đ nh bị cáo. Mặc dù quá tr nh điều tra, xét xử đã tiến hành đối chất, đấu tranh nhằm tránh bỏ l t tội phạm nhưng không chứng minh được vấn đề có đ ng phạm. Do vậy, cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với Bùi Văn S. Tại phiên tòa Bùi Văn Hảo thay đổi lời khai, xác nhận S không liên quan đến hành vi l a đảo của Hảo, hoàn toàn là do Hảo tự thực hiện một m nh. Do vậy Hội đ ng xét xử không có cơ sở để xem xét trách nhiệm h nh sự của Bùi Văn S trong vụ án này.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí h nh sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của m nh trong bản án.
V các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật h nh sự;
Căn Điều 135, Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng h nh sự;
Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn H phạm tội “L a đảo chiếm đoạt tài sản“.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn H 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tính t ngày giam gi 22/12/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch Th, phát mại, sung công quỹ Nhà nước 01 một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng - h ng. Số IMEI 356715086163337, số IMEI 35671508616333, t nh trạng đã qua sử dụng.
(Vật chứng trên hiện đang lưu gi tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Hòa B nh theo biên bản giao nhận vật chứng số 92/BB/24 ngày 27/5/2024).
3.Về án phí: bị cáo Bùi Văn H phải nộp 200.000đ Hai trăm ngh n đồng tiền án phí h nh sự sơ thẩm.
4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án, bị hại v ng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh HB; - Sở tư pháp tỉnh HB; - VKSND th nh ph HB; - VKSND tỉnh HB; - C iều tra th nh ph HB; - Thi h nh án h nh sự; - Chi cục Thi h nh án DS TPH; - Bị cáo; - Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. - UBND xã S-T- HB; - Lưu hồ sơ. | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Đà Giang |