- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Xuân H phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sun…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Xuân H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2024/HS-ST Ngày 10-9-2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Sang và ông Nguyễn Văn Chìu
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Loan- Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2024/HSST ngày 01-8-2024, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số 09/TB-TA ngày 06/9/2024 đối với bị cáo:
Đặng Xuân H, sinh năm 1989; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: khu L, thị trấn T huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không xác định và bà Đặng Thị H; có vợ là Phạm Thị Thu T (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/4/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng đến nay, có mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Đoàn Thiện H, sinh năm 1979;
+ Anh Trƣơng Văn Q, sinh năm 1977;
+ Anh Lƣơng Văn T, sinh năm 1989;
+ Chị Phạm Thị M, sinh năm 1982;
+ Anh Lâm Văn K, sinh năm 1976;
+ Bà Đặng Thị, sinh năm 1966
Những ngƣời làm chứng đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Đặng Xuân H là ngƣời thƣờng xuyên sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 12 giờ ngày 16/4/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen, biển số 34B3 - 821.... (xe mƣợn của bà Đỗ Thị H – mẹ đẻ H) đi từ nhà sang khu vực ngã tƣ H thuộc huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng gặp và mua của một ngƣời đàn ông không quen biết ma túy tổng hợp dạng đá, đựng trong một ống hút bằng nhựa kích thƣớc (4x1)cm với số tiền 500.000 đồng, mục đích để sử dụng, và đƣợc ngƣời này cho 01 chai nhựa có nắp đƣợc đục 02 lỗ, gắn coóng thủy tinh và ống hút nhựa để làm dụng cụ sử dụng ma túy. Sau khi mua đƣợc ma túy, H điều khiển xe máy đi về gần đến khu chuyển đổi nhà chị Phạm Thị M ở thôn Q, xã T, huyện Tứ Kỳ thì gặp Trƣơng Văn Q và Lƣơng Văn T (là bạn), nên H rủ Q và T vào lán tôn trong khu chuyển đổi của chị Mai để sử dụng ma túy. Tại đây, H bỏ vỏ chai nhựa gắn ống hút và coóng thủy tinh ra, lấy đoạn ống hút bằng nhựa chứa ma túy vừa mua đƣợc đổ ma túy vào trong coóng rồi dùng bật lửa gas đốt đáy coóng để ma túy trong coóng nóng lên, rồi hút khói ma túy vào cơ thể. Sau đó H đƣa cho Q cùng sử dụng. Q nhận dụng cụ sử dụng ma túy do H đƣa, đốt cháy ma túy và hít khói ma túy vào cơ thể để sử dụng, còn T chỉ ngồi chơi không sử dụng ma túy. Hoà và Q thay nhau sử dụng ma túy đƣợc khoảng 5-7 phút thì Q đứng dậy đi về nhà. Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi H đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Tổ công tác thuộc Công an huyện Tứ Kỳ phối hợp với Công an xã T kiểm tra phát hiện lập biên bản vụ việc. Thu giữ tại vị trí H đang ngồi 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu đen đục hai lỗ, một lỗ đƣợc gắn ống hút nhựa màu trắng, một lỗ đƣợc gắn cóong thủy tinh, bên trong bầu cóong bám dính các chất tinh thể màu trắng và 01 vỏ ống hút nhựa kích thƣớc (4x1)cm, một đầu ống đƣợc hàn kín, bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen, biển số 34 B3 - 821.....
Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày ngày 16/4/2024 đối với Đặng Xuân H, Trƣơng Văn Q và Lƣơng Văn T xác định: H và Q dƣơng tính với chất ma túy loại Methamphetamine; T âm tính với chất ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 223/KLGĐ-KTHS ngày 18 tháng 4 năm 2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dƣơng, kết luận:
- Chất tinh thể màu trắng bám dính trong bầu coóng thủy tinh, đƣợc niêm phong trong hộp bìa catton gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Lƣợng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định đƣợc khối lƣợng.
- Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong vỏ ống hút nhựa màu trắng đƣợc niêm phong trong phong bì, gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Lƣợng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định đƣợc khối lƣợng.
Tại bản cáo trạng số: 62/CT-VKSTK ngày 31/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Đặng Xuân H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự;
Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS.
Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
+ Xử phạt Đặng Xuân H từ 24 đến 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 19/4/2024
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy, ký hiệu T1 đƣợc niêm phong, bên trong chứa 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai nhựa màu đen đục hai lỗ, một lỗ đƣợc gắn 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ đƣợc gắn 01 cóong thủy tinh và 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 bì thƣ ký hiệu T2 niêm phong dán kín bên trong có mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 01 vỏ hút nhựa màu trắng, một đầu đƣợc hàn kín và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, xác định VKSND huyện Tứ Kỳ truy tố về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo trong giai đoạn điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 45 ngày 16/4/2024 tại lán lợp tôn trong khu chuyển đổi của gia đình chị Phạm Thị M ở thôn Q, xã T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, Đặng Xuân H có hành vi cung cấp ma túy loại Methamphetamine, dụng cụ để H và Trƣơng Văn Q sử dụng trái phép, thì bị Tổ công tác thuộc Công an huyện Tứ Kỳ phát hiện, lập biên bản vụ việc, thu giữ cùng vật chứng. Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ để cho ngƣời khác sử dụng là trái pháp luật nhƣng bị cáo vẫn cố ý thực hiện đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Do bị cáo tổ chức cho Q sử dụng trái phép chất ma túy nên bị cáo chỉ phải chịu trách nhiệm theo khoản 1 Điều 255 BLHS. Nhƣ quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trật tự xã hội ở địa phƣơng, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý theo quy định pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Vì vậy, HĐXX xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, nhƣng dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là ngƣời sử dụng ma túy, không nghề nghiệp ổn định, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: 01 hộp giấy ký hiệu T1 đƣợc niêm phong, bên trong chứa 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai nhựa màu đen đục hai lỗ, một lỗ đƣợc gắn 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ đƣợc gắn 01 cóong thủy tinh và 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 bì thƣ ký hiệu T2 niêm phong dán kín bên trong có mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 01 vỏ hút nhựa màu trắng, một đầu đƣợc hàn kín và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Đối với chiếc xe máy 34B3 - 821.... mà H sử dụng để đi mua ma túy là tài sản hợp pháp của bà Đỗ Thị H (mẹ của H). Bà H cho mƣợn xe nhƣng không biết H sử dụng phƣơng tiện mua ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
Đối với đối tƣợng bán ma túy cho Đặng Xuân H, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không làm rõ đƣợc tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý. Bà Phạm Thị M không biết H vào lán tôn ở khu chuyển đổi để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên không phải chịu trách nhiệm.
Đối với Trƣơng Văn Q có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 18/6/2024, Công an huyện tứ Kỳ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính hành chính là phù hợp. Anh Lƣơng Văn T biết H rủ Q và bản thân anh vào lán tôn của bà Mai sử dụng trái phép chất ma túy là có dấu hiệu của tội không tố giác tội phạm. Tuy nhiên do thời điểm xảy ra vụ việc, T vẫn đang ngồi ở đó cùng với H, chƣa kịp đi đâu, không có điện thoại để gọi điện báo với cơ quan chức năng thì vụ việc đã bị phát hiện nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với T là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án,
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS;
1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Xuân H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
+ Xử phạt Đặng Xuân H 02 (Hai) năm 01 (Một) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 19/4/2024
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy ký hiệu T1 đƣợc niêm phong, bên trái có ghi “Công an tỉnh Hải Dƣơng- Phòng kỹ thuật hình sự, số 223/KLGĐ-PC09”, bên trong có mẫu vật hoàn lại sau giám định: 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai nhựa màu đen đục hai lỗ, một lỗ đƣợc gắn 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ đƣợc gắn 01 cóong thủy tinh và 01 bật lửa gas màu đỏ, có con dấu và chữ ký của các bên liên quan; 01 bì thƣ ký hiệu T2 niêm phong dán kín, bên trái có ghi “Bộ Công an-Công an tỉnh Hải Dƣơng, số 223/KL-KTHS”. Bên trong có mẫu vật hoàn lại sau giám định: 01 vỏ hút nhựa màu trắng, một đầu đƣợc hàn kín và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định có con dấu và chữ ký của các bên liên quan.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Đặng Xuân H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS. Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dƣơng; - Sở tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng; - VKSND huyện Tứ Kỳ; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ; - Cơ quan THA hình sự- CA huyện Tứ Kỳ; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng; - Bị cáo; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Nguyễn Văn Quân |