vanban.org

Bản án 68/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 25/03/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2023/HS-ST ngày 11/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu H - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HS-PT
Ngày: 25/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Tuyết

Các Thẩm phán: 1. Bà Lê Thị Thanh Huyền

2. Bà Nguyễn Thị Thu Trang

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Quang Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk

Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Vũ

Đình Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử

phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2024/TLPT-HS ngày 19/02/2024, đối với bị cáo Nguyễn Hữu H về tội “Cố ý gây thương tích”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2023/HS-ST ngày 11/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên: Nguyễn Hữu H; Tên gọi khác: Không; Giới

tính: Nam; Sinh năm: 2003, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông Nguyễn Hữu H1, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1978; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/7/2023 đến ngày 11/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K ra Quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Quyết định về việc bảo lĩnh.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 12/3/2023, Nguyễn Hữu H cùng với Y Thuật N, Trương Văn Hùng D, Nguyễn Thị Thanh N1, Nguyễn Xuân V đến dự tiệc đám cưới của Nguyễn Thành N2 tại buôn E, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi tàn tiệc mỗi người ra về còn H, D, N1, Y T1 và V ngồi lại ăn uống và hát Karaoke tại nhà của N2. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày Nguyễn Văn T2 là anh ruột của N2 đến tắt nhạc thì Y T1, H, D và N1 đi ra chỗ để xe để lấy xe đi về thì T2 dùng tay đấm vào mặt của Y T1, còn Y T1 dùng tay đấm lại vào mặt của T2. Thấy vậy, H và D xông vào dùng tay đánh T2, cũng lúc này có Nguyễn Văn C là em ruột, Nguyễn Văn L là chú ruột, Trương Quốc T3 là em rể và ông Nguyễn Văn L1 là bố ruột của T2 thấy T2 bị đánh nên chạy ra cùng với T2 đánh H, Y T1 và D. Trong lúc xô xát H rút từ trong túi quần một con dao, loại dao bấm làm bằng kim loại đâm nhiều nhát trúng vào cánh tay phải của T2, vào cánh tay trái và lòng bàn tay trái của L, trúng vào cánh tay phải của T3 gây thương tích. Quá trình xô xát H, D, Y T1 và C cũng bị thương.

Tại bản kết luận tổn thương trên cơ thể người sống số 135/KLTTCT-PY ngày 21/4/2023, của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T2 như sau:

- Vết thương đã mở rộng hình dích dắc, kéo dài từ mặt ngoài vào mặt trong 1/3 giữa cánh tay phải, kích thước (18,5 x 1,5)cm,

- Sẹo mổ mặt sau – ngoài cánh tay phải kích thước (18 x 2)cm,

- Vết thương để lại sẹo mặt sau – trong 1/3 giữa trên cánh tay phải, bờ đều, kích thước ( 1 x 0,5)cm,

- Tổn thương bán phần thần kinh quay đoạn 1/3 giữa cánh tay phải,

Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T2 là: 35%. Vật tác động: Vật sắc, nhọn.

Tại bản kết luận Giám định bổ sung thương tích trên cơ thể người sống số 465/KLTTCT-PY ngày 20/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T2 như sau:

- Vết thương đã mở rộng hình dích dắc, kéo dài từ mặt ngoài vào mặt trong 1/3 giữa cánh tay phải, kích thước (18,5 x 1,5)cm,

- Sẹo mổ mặt sau – ngoài cánh tay phải kích thước (18 x 2)cm,

- Vết thương để lại sẹo mặt sau – trong 1/3 giữa trên cánh tay phải, bờ đều, kích thước ( 1 x 0,5)cm,

- Tổn thương bán phần thần kinh quay đoạn 1/3 giữa cánh tay phải,

Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T2 là: 35%. Vật tác động: Vật sắc, nhọn.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2023/HS-ST ngày 11/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu H: 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt

tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2023 đến ngày 11/8/2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật

chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/12/2023 bị cáo Nguyễn Hữu H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung của bản án sơ thẩm.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Hữu H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng người, đúng tội. Xét mức hình phạt 03 năm tù mà Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là thoả đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào khác. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai của bị cáo Nguyễn Hữu H tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Do ý thức coi thường pháp luật và sức khỏe của người khác nên khoảng 18 giờ ngày 12/3/2023, tại nhà ông Nguyễn Văn L1 ở Buôn E, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Nguyễn Hữu H đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm trúng vào cánh tay phải của T2 gây thương tích 35%, trúng vào cánh tay trái và lòng bàn tay trái của Nguyễn Văn L gây thương tích 3% và trúng vào cánh tay trái của Trương Quốc T3 gây thương tích 2%. Trong quá trình điều tra, ông Nguyễn Văn L và ông Trương Quốc T3 không yêu cầu khởi tố vụ án Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hữu H.

Do đó, Tòa cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Hữu H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp lý và đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thì thấy rằng: Mức hình phạt 03 năm tù mà cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và cung cấp biên lai nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, Tuy nhiên, việc nộp tiền án phí không thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điều 51Bộ luật hình sự . Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

[3] Về án phí: Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Nguyễn Hữu H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,

kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu H, giữ nguyên Bản án

hình sự sơ thẩm số 51/2023/HS-ST ngày 11/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.

[2]. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu H: 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2023 đến ngày 11/8/2023.

[3]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/

UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Hữu H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ