- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa Phan Thị L và Lê Văn T"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27-05-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Xuân Thọ - Thẩm phán.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nga và ông Nguyễn Hữu Tường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nhật Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Ngày 27 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 192/2024/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 04 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định hoãn phiên tòa số: 45/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 15 tháng 05 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị L, nơi cư trú: Xóm T1, xã T2, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An (có mặt)
- Bị đơn: Anh Lê Văn T, nơi cư trú: Xóm T1, xã T2, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 04 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phan Thị L trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Lê Văn T đăng ký kết hôn vào ngày 14/07/2006 tại Ủy ban nhân dân xã T2, huyện Yên Thành.
Trước khi đăng ký kết hôn hai bên có tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, không ai, lừa dối, ép buộc.
Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì xẩy ra mâu thuẫn cho đến nay.
Nguyên nhân: Anh T không có trách nhiệm với gia đình, sống không chung thủy, quan hệ ngoại tình với người khác, ngăn chặn mọi giao dịch giữa Anh và Chị, Chị khuyên Anh sửa chữa nhưng Anh không nghe dẫn dến vợ chồng xúc phạm danh dự nhân phẩm của nhau. Nên Chị đã bỏ về ngoại sống ly thân cắt mọi quan hệ tình cảm vợ chồng từ ngày 20/02/2022 đến nay.
Sự việc xẩy ra đã được hai gia đình hòa giải nhưng không thành.
Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, Chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
- Về con chung: Chị và anh T có 02 con là Lê Phan Nguyên Bảo, sinh ngày 20/08/2007 và Lê Phan Nguyên Kim, sinh ngày 03/08/2014.
Hiện nay Chị đang nuôi dưỡng con Lê Phan Nguyên Kim, anh T đang nuôi dưỡng con Lê Phan Nguyên Bảo. Các con khỏe mạnh.
Nếu ly hôn Chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con Lê Phan Nguyên Kim và giao anh T nuôi dưỡng con Lê Phan Nguyên Bảo.
- Về tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến trình bày của các đương sự tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.
Về tố tụng:
Bị đơn anh Lê Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ phiên hòa giải lần thứ 2 mà vẫn cố tỉnh vắng mặt nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được, theo khoản 2 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Lê Văn T đã được tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần 2 nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về Hôn nhân: Chị Phan Thị L và anh Lê Văn T được Ủy ban nhân dân xã T2, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn số 27/2006, ngày 14 tháng 07 năm 2006, thủ tục, điều kiện kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì xẩy ra mâu thuẫn cho đến nay. Nguyên nhân: Anh T Anh T không có trách nhiệm với gia đình, sống không chung thủy, quan hệ ngoại tình với người khác, vợ chồng xúc phạm danh dự nhân phẩm của nhau và sống ly thân cắt mọi quan hệ tình cảm từ ngày 20/02/2022 đến nay.
Ủy ban nhân dân xã T2 đã xác nhận tình trạng hôn nhân và con chung của vợ chồng.
Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã vận động thuyết phục chị L rút đơn về đoàn tụ gia đình nhưng chị L không chấp nhận.
Xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị L đã thỏa mãn những căn cứ quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đủ cơ sở chấp nhận cho ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con là Lê Phan Nguyên Bảo, sinh ngày 20/08/2007 và Lê Phan Nguyên Kim, sinh ngày 03/08/2014.
Chị L đang nuôi dưỡng con Lê Phan Nguyên Kim, anh T đang nuôi dưỡng con Lê Phan Nguyên Bảo.
Nếu ly hôn chị L có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con Lê Phan Nguyên Kim và giao anh T nuôi dưỡng con Lê Phan Nguyên Bảo.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Hiện nay chị L đang nuôi dưỡng con Lê Phan Nguyên Kim, anh T đang nuôi dưỡng con Lê Phan Nguyên Bảo. Chị L có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Kim, cháu Kim có nguyện vọng ở với mẹ, cháu Bảo có nguyện vọng ở với Bố. Để ổn định cuộc sống và bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của các cháu. Vì vậy cần giao chị L tiếp tục nuôi dưỡng con chung Lê Phan Nguyên Kim, anh T tiếp tục nuôi dưỡng con chung Lê Phan Nguyên Bảo là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về chia tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Chị L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị L phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị L.
1.Về Hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phan Thị L và anh Lê Văn T.
2.Về nuôi con:
Giao 01 con là Lê Phan Nguyên Kim, sinh ngày 03/08/2014 cho chị Phan Thị L tiếp tục, trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi và trưởng thành.
Giao 01 con là Lê Phan Nguyên Bảo, sinh ngày 20/08/2007 cho anh Lê Văn T tiếp tục, trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi và trưởng thành.
Chị L, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Chị L, anh T có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, thay đổi người trực tiếp nuôi con trên cơ sở lợi ích của con.
3. Án phí: Chị Phan Thị L phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng ) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002724 ngày 05/04/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Chị Phan Thị L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Chi cục THADS huyện Yên Thành; - TAND tỉnh Nghệ An; - Cơ quan thực hiện việc đăng kết hôn; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu kết quả; - Đương sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký ) Phan Xuân Thọ |