vanban.org

Bản án 68/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 59, 60, 81 và 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Thúy K - Huỳnh Dương K1 - LH"
  • Tòa quyết gì? 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29-9-2024
Về việc “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thi Hữu Giàu;

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ,

tỉnh Long An.

Ngày 29 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ

thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 125/2024/HNGD-ST ngày 28

tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử

số: 68/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Thúy K, sinh năm 1997; Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện

C, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Dương K1, sinh năm 1990; Địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện

Đ, tỉnh Long An (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 03-4-2024, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn

bà Bùi Thị Thúy K trình bày và yêu cầu: Bà và ông Huỳnh Dương K1 cưới nhau năm

2015, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An ngày 19-

01-2016; C sống hạnh phúc đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan

điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường cãi vã, mất hạnh phúc, đã ly thân từ tháng

01-2024 đến nay.

Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Dương K1;

Về nuôi con chung: Yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Huỳnh Nhật

Q, sinh ngày 16-12-2016, đang sống với bà, không yêu cầu ông K1 phải cấp dưỡng

nuôi con chung;

Về chia tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về chia nợ chung: Không có.

- Vụ án không hòa giải đoàn tụ được do bị đơn là ông Huỳnh Dương K1 đã

được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt;

- Ngày 05-8-2024, bà Bùi Thị Thúy K có đơn xin giải quyết và xét xử vắng

mặt;

- Bị đơn là ông Huỳnh Dương K1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có

lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Bùi Thị Thúy K khởi kiện “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Huỳnh

Dương K1; Tòa án nhân dân huyện Đ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Bà K có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại

khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Bị đơn là ông K1 được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án,

nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn không có đơn rút yêu cầu khởi kiện, các đương

sự không thỏa thuận được với nhau việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.

Xét về hôn nhân:

Bà K và ông K1 chung sống có đăng ký kết hôn ngày 19-01-2016 tại Ủy

ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà K và ông K1 là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của bà K: Bà K cho rằng bà và ông K1 phát sinh mâu

thuẫn từ năm 2022 do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường cãi vã, mất hạnh phúc, đã ly thân từ tháng 01-2024 đến nay. Tuy bà K không đưa ra tài liệu, chứng cứ chứng minh mâu thuẫn vợ chồng, nhưng xét từ khi xảy ra mâu thuẫn, ly thân và cho đến nay, bà K và ông K1 không khắc phục được mâu thuẫn gia đình, bà K và ông K1 mỗi người vẫn tự lo cho bản thân, không quan tâm chăm sóc nhau; ông K1 biết được việc bà K khởi kiện ly hôn nhưng vẫn không có ý kiến, không có mặt tham gia hòa giải đoàn tụ và vắng mặt tại phiên tòa, ông K1 không có ý chí đoàn tụ. Xét mâu thuẫn giữa bà K và ông K1 đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà K yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận. Ông K1 không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét.

Xét về nuôi con chung:

Xét con chung tên Huỳnh Nhật Q, sinh ngày 16-12-2016, đang sống với

bà K, nguyện vọng muốn sống chung với bà K, việc thay đổi môi trường sống, học

tập, sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về tâm lý, sinh lý của con chung, bà

K yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật

Hôn nhân gia đình nên chấp nhận. Ông K1 không có ý kiến nên không có căn cứ

xem xét.

Xét về cấp dưỡng nuôi con: Bà K không yêu cầu ông K1 cấp dưỡng nuôi

con chung là tự nguyện, phù hợp quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình nên

ghi nhận. Ông K1 không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét.

Ông K1 được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì

lợi ích của con chung, bà K và ông K1 được quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi

con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại các Điều

83, 84, 107 và 110 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản chung: Bà K không yêu cầu giải quyết nên không đề cập.

Ông K1 không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét. Nếu xảy ra tranh chấp, các

đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo pháp luật tố tụng dân sự là phù

hợp quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về chia nợ chung: Bà K trình bày không có nên không đề cập. Ông K1

không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét. Nếu xảy ra tranh chấp, các đương sự

được quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo pháp luật tố tụng dân sự là phù hợp quy

định tại Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về án phí, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xét thấy:

Bà K là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân

sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ

thẩm đã nộp, bà K đã nộp đủ án phí; Ông K1 không phải chịu tiền án phí dân sự sơ

thẩm;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 59, 60, 81 và 82 Luật Hôn nhân và gia

đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy

ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Bà Bùi Thị Thúy K được ly hôn với ông Huỳnh Dương Khang

.

2. Về nuôi con chung:

Bà Bùi Thị Thúy K được trực tiếp nuôi con chung tên Huỳnh Nhật Q, sinh

ngày 16-12-2016, đang sống với bà K. Ông Huỳnh Dương K1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông K1 được quyền thăm nom và chăm sóc con chung. Khi cần thiết, vì lợi

ích của con chung, bà K và ông K1 được quyền yêu cầu thay đổi trình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về chia tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

4. Về chia nợ chung: Không có.

5. Về án phí: Bà Bùi Thị Thúy K phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)

án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0004470 ngày 28-5-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, bà K đã nộp đủ án phí;

6. Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc

thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ