- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21/02/2024 V/v “Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ - TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo Ngân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Phước Tân.;
2. Ông Phan Công Văn.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên. Ngày 21 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú mở xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 443/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1998; cư trú: Tổ G, khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Yến V, sinh năm 2001; cư trú: Tổ A, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.
(Ông H có mặt; bà V vắng mặt lần 2)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu kèm theo ông Nguyễn Minh H trình bày:
Về hôn nhân: Hôn nhân của ông H và bà V là tự tìm hiểu, yêu thương nhau được cha mẹ đồng ý tiến hành tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện A, tỉnh An Giang.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó ngày càng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bà V ăn chơi, không quan tâm chăm lo cho gia đình, thậm chí còn cờ bạc gây nợ nần chồng chất nhiều lần ông H phải trả nợ thay cho bà nhưng bà vẫn không thay đổi. Thời gian gần đây khoảng 03 tháng ông H phát hiện bà V phát sinh tình cảm với người khác qua tin nhắn zalo và những hành động thân mật được người khác chụp lại gửi cho ông.
Ông H và bà V đã nói chuyện nhưng bà không thừa nhận, từ đó vợ chồng tranh cãi và đã ly thân nhau. Gia đình hai bên biết chuyện nhưng không can thiệp để ông bà tự giải quyết.
Tuy thời gian phát sinh mâu thuẫn chỉ mới 03 tháng nhưng trong khoảng thời gian đó ông bà không liên hệ hàn gắn, có nói chuyện cũng chỉ tranh cãi, bà V cho rằng nếu sống cứ tranh cãi nhau thì tốt nhất là ly hôn. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đến mức trầm trọng, có quay về chung sống cũng không hạnh phúc nên ông xin ly hôn với bà V.
Về con chung: Trong thời gian chung sống ông bà sinh được 01 (một) con chung tên Nguyễn Phạm Phúc T, sinh ngày 07/5/2022, hiện đang do bà V và gia đình cùng chăm sóc. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn ông H đồng ý cho bà V được tiếp tục nuôi con chung và không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông yêu cầu không tiến hành hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử do ông kiên quyết ly hôn, không còn tình cảm với bà V. Đồng thời, ông xin vắng mặt tại phiên hòa giải và phiên tòa bảo lưu ý kiến.
Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.
Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho bà V theo quy định nhưng bà vẫn không có mặt theo các thông báo của Tòa án. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú và tình trạng hôn nhân của ông H, bà V để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Chứng cứ mà Tòa án thu thập được:
Về nơi cư trú: Theo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Công an xã P thể hiện bà V hiện cư trú tại xã P, huyện A, tỉnh An Giang chưa có thông tin tách chuyển đi nơi khác.
Về mâu thuẫn hôn nhân: Bà Dương Thị Bé X – mẹ ruột ông H cho biết việc mâu thuẫn vợ chồng của ông H và bà V thì bà không chứng kiến nhưng có nghe qua bạn bè của ông bà kể lại là do bà V nhiều lần gây nợ nần, ông H đứng ra trả nhưng không thay đổi nên vợ chồng phát sinh tranh cãi. Nay ông bà ly hôn gia đình không có ý kiến, ông bà tự quyết định.
Tại phiên tòa, ông H có mặt bảo lưu ý kiến, riêng bà V đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà theo thủ tục chung.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Ông H chung sống với bà V đến năm 2022 thì không còn hạnh phúc nên ông khởi kiện yêu cầu được ly hôn, Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bà V hiện có địa chỉ cư trú tại xã P, huyện A. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, An Giang.
Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh H, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hôn nhân: Ông H và bà V xây dựng gia đình trên hôn nhân tự nguyện được sự đồng ý của hai gia đình tiến hành tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện A, tỉnh An Giang vào ngày 01/3/2022 nên phát sinh trách nhiệm pháp lý, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và được pháp luật bảo vệ theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Mặc dù Tòa án đã động viên và hòa giải nhưng ông H vẫn cương quyết xin được ly hôn với bà V. Tại phiên hòa giải, ông H yêu cầu không tiến hành hòa giải do không còn tình cảm và tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã hàn gắn, phân tích để ông H nhìn nhận tình cảm nhưng ông kiên quyết giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn, đã thể hiện việc không thể quay lại chung sống với bà V. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn ông bà đã phát phát sinh trong thời gian dài từ năm 2021 đến nay nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn, gia đình hai bên để ông bà tự quyết định và nhìn nhận mâu thuẫn của ông bà dù có quay lại ông bà chung sống cũng không hạnh phúc.
Ông H cho rằng nguyên nhân xin ly hôn là do bà V nhiều lần gây nợ nần và phát sinh tình cảm với người khác nên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cải vã. Mâu thuẫn dù chỉ vừa phát sinh khoảng 03 tháng nhưng không có cách nào hàn gắn được, gia đình hai bên để ông bà tự giải quyết, không can thiệp. Xét thấy mâu thuẫn của ông bà là trầm trọng, không thể hàn gắn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Phạm Phúc T, sinh ngày 07/5/2022, hiện nay con chung do bà B và gia đình cùng chăm sóc. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn ông đồng ý cho bà V được tiếp tục nuôi con chung và không cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, con chung từ khi ông bà ly thân hiện sống ổn định với bà V và gia đình bà V, việc thay đổi chỗ ở, hoàn cảnh sống đột ngột sẽ ảnh hưởng đến tâm sinh lý và sự phát triển của con chung. Quan trọng hơn, con chung hiện chưa đủ 36 tháng tuổi nên theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung cho bà V tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với hoàn cảnh và quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, bà V vắng mặt nên Tòa án không giải quyết nếu sau này bà V có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Hội đồng xét xử giải thích cho các đương sự biết: Bà V cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Ông H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016;
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh H.
1. Về hôn nhân: Ông Nguyễn Minh H được ly hôn với bà Nguyễn Thị Yến V.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Yến V được tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Phạm Phúc T, sinh ngày 07/5/2022, ông H không cấp dưỡng nuôi con.
Bà V cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về án phí: Ông Nguyễn Minh H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009158 ngày 07/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú (ông H đã nộp đủ). Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/02/2024) thời hạn kháng cáo của ông H và bà V được tính kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.