- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Đoàn Thị L - Đoàn Thị Trà M"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị L về việc buộc Đoàn Thị Trà M bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2024/DS-ST Ngày 12 - 7 - 2024 V/v Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Song Tiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Văn Bé
Ông Đinh Ngọc Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Duy – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 và 12 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 281/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị L, sinh năm 1961 (có mặt);
Địa chỉ: ấp C, xã A, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Bà Đoàn Thị Trà M, sinh năm 1986 (có mặt);
Địa chỉ: ấp C, xã A, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn U, sinh năm 1963 (có mặt ngày 17 tháng 6 năm 2024 và vắng mặt ngày 12 tháng 7 năm 2024);
Địa chỉ: ấp C, xã A, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 19 tháng 7 năm 2023 và quá trình xét xử, nguyên đơn là bà Đoàn Thị L là nguyên đơn trình bày:
Bà Đoàn Thị Trà M làm bảng hiệu bán cà phê, uốn tóc đào cắm chân bảng hiệu bên lộ 30/4, thuộc C, xã A làm ống nước gia đình bà hư hỏng đến khoảng 08 giờ ngày 04 tháng 4 năm 2023, bà ra kiểm tra ống nước lại thì bị bà Trà M lấy điện thoại quay phim bà và chửi bà cho rằng bà phá hoại tài sản. Sau đó bà M lấy điện thoại chỉ chỏ vào gần mặt bà thì bà lấy tay gạt điện thoại trúng mặt bà M, bà M ôm bà và vật bà xuống lộ 30/4, đánh bà 4 đến 5 cái sưng mặt. Bà bị chấn thương vùng mặt, vùng đầu và vùng chân, bà phải đi điều trị tại bệnh viện Châu Thành, sau đó chuyển viện lên bệnh viện tỉnh Long An 7 ngày mới bình phục, xuất viện.
Bà không yêu cầu xử lý hình sự đối với bà Đoàn Thị Trà M. Do đó, bà yêu cầu bà Đoàn Thị Trà M trả cho bà tiền điều trị bệnh cụ thể như sau:
- Chi phí tiền thuốc ngày 04 tháng 4 năm 2023, tổng số tiền là 1.006.451đ (một triệu không trăm lẻ sáu nghìn bốn trăm năm mươi mốt đồng);
- Hóa đơn ngày 07 tháng 4 năm 2023, số tiền là: 300.000đ (ba trăm nghìn đồng);
- Chi phí tiền thuốc ngày 10 tháng 4 năm 2023, tổng số tiền là: 1.884.030đ (một triệu tám trăm tám mươi bốn nghìn không trăm ba mươi đồng);
- Hóa đơn ngày 18 tháng 4 năm 2023, số tiền là 160.000đ (một trăm sáu mươi nghìn đồng);
- Tiền nẹp số tiền 144.000đ (một trăm bốn mươi bốn nghìn đồng);
Tổng số tiền thuốc trị thương là: 3.494.481đ (ba triệu bốn trăm chín mươi bốn nghìn bốn trăm tám mươi mốt đồng);
- Tiền mất thu nhập của người bệnh: 300.000đ (ba trăm nghìn đồng)/ngày x 7 = 2.100.000đ (hai triệu một trăm nghìn đồng), (ngày thu nhập bán quần áo của bà).
- Tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh: 200.000đ/ngày x 7 ngày = 1.400.000đ (một triệu bốn trăm nghìn đồng), ông U là chồng bà trực tiếp nuôi bà tại bệnh viện.
Tổng số tiền bà yêu cầu bà M bồi thường thiệt hại là 6.994.481đ (sáu triệu chín trăm chín mươi bốn nghìn bốn trăm tám mươi bốn đồng). Ngoài ra, bà không yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa, bà L yêu cầu bồi thường theo hóa đơn, chứng từ bà đã cung cấp cho Tòa án, cụ thể bà điều chỉnh số tiền yêu cầu:
- Đối với hóa đơn ngày 07 tháng 4 năm 2023, số tiền yêu cầu là: 288.900đ (hai trăm tám mươi tám nghìn chín trăm đồng);
- Đối với chi phí tiền thuốc ngày 10 tháng 4 năm 2023, tổng số tiền yêu cầu là: 1.799.700đ (một triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn nghìn bảy trăm đồng).
Đối với tiền nẹp số tiền 144.000đ (một trăm bốn mươi bốn nghìn đồng), bà không yêu cầu do không có chứng từ. Bà yêu cầu tính thêm hóa đơn ngày 16 tháng 4 năm 2023 với số tiền 84.340đ (tám mươi bốn nghìn ba trăm bốn mươi đồng). Do đó, số tiền bà yêu cầu bà M bồi thường là 6.839.391đ (sáu triệu tám trăm ba mươi chín nghìn ba trăm chín mươi mốt đồng).
Bà Đoàn Thị Trà M là bị đơn trình bày:
Tấm bảng hiệu bà đã làm xong trước đó 3 và 4 ngày đến ngày 04 tháng 4 năm 2023, bà L cho rằng bà làm bảng hiệu làm bể ống nước của bà L nên bà L đã có hành vi nắm tóc bà nên bà xô bà L ra, bà L té xuống lộ 30/4, lúc đó bà thấy bà L đi lại bình thường.
Đối với yêu cầu bà L, bà không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bà L.
Còn ông U nhiều lần nhậu vào thì chưởi bới bà và đuổi khách uốn tóc của bà, bà nhiều lần yêu cầu công an xã xử lý.
Ông Trần Văn U là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông nghề nghiệp mua bán quần áo trẻ em, chạy xe theo các tuyến đường mua bán, thu nhập bình quân mỗi ngày là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Ông không có chưởi bà M, đổi khách uốn tóc như bà M trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền và xác định quan hệ tranh chấp đúng theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định về thủ tục tố tụng, các đương sự chấp hành đúng pháp luật. Đồng thời, xác định: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, bị đơn và kết quả điều tra xác minh của Công an xã A xác định: Ngày 04 tháng 4 năm 2023, bà L, ông U và bà M xảy ra tranh cãi, xô xát đánh nhau, hậu quả là bà L bị ngã đầu đập xuống mặt đường bị tổn thương nông ở đầu, tổn thương nông tại cổ chân và bàn chân theo giấy ra viện ngày 10 tháng 4 năm 2023 và giấy chứng nhận thương tích số 88/CN/2023, ngày 18 tháng 4 năm 2023 của Bệnh viện đa khoa Long An. Do đó, bà M có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bà L do có hành vi xâm phạm sức khỏe của bà L quy định tại Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào các chứng từ bà L cung cấp: Chi phí điều trị tiền viện phí hóa đơn ngày 10 tháng 4 năm 2023 là: 1.799.700 đồng; tiền thuốc ngày 04 tháng 4 năm 2023 là: 1.006.451 đồng, tiền thuốc ngày 07 tháng 4 năm 2023 là: 288.900 đồng, tiền thuốc ngày 18 tháng 4 năm 2023 là: 160.000 đồng, tiền thuốc ngày 16 tháng 04 năm 2023 là 84.340 đồng. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận số tiền là 3.339.391 đồng.
Đối với yêu cầu bồi thường thu nhập thực tế bị mất của bà L mỗi ngày 300.000 đồng x 07 ngày = 2.100.000 đồng và thu nhập thực tế bị mất của người nuôi bệnh (ông U) trong thời gian bà điều trị Lữ là 200.000 đồng x 07 ngày = 1.400.000 đồng. Xét thấy, theo Công văn số 685 ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Ủy ban nhân dân xã A cũng xác nhận việc bà L, ông U có buôn bán ở địa phương, theo xác nhận của ban ấp việc bà L có bán bánh mì, quần áo tại địa phương trước khi sự việc xảy ra và xác nhận của chủ nhà trọ nơi bà L, ông U hiện đang thuê để bán bánh mì, quần áo là đúng sự thật nên có cơ sở để chấp nhận.
Từ những phân tích trên, căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự 2015; Điều 12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Đoàn Thị Trà M phải có nghĩa vụ bồi thường cho bà Đoàn Thị L tổng số tiền là 6.839.391đ (sáu triệu tám trăm ba mươi chín nghìn ba trăm chín mươi mốt đồng).
- Về án phí: Buộc bà Đoàn Thị Trà M phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của bà Đoàn Thị L và nơi cư trú của bà Đoàn Thị Trà M, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý và giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm được quy định tại khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Đoàn Thị L yêu cầu bà Đoàn Thị Trà M bồi thường thiệt hại tổng số tiền là 6.839.391đ (sáu triệu tám trăm ba mươi chín nghìn ba trăm chín mươi mốt đồng) nhưng bà M không đồng ý, bà M cho rằng bà L đã có hành vi nắm tóc bà nên bà xô bà L ra, bà L té xuống lộ 30/4, lúc đó bà thấy bà L đi lại bình thường. Tuy nhiên, Công an xã A làm việc với các bên đương sự thì các bên đương sự đã xác định: Bà Đoàn Thị L, bà Đoàn Thị Trà M, ông Trần Văn U có hành vi gây mất trật tự công cộng và đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với bà Đoàn Thị L, bà Đoàn Thị Trà M, ông Trần Văn U. Bà Đoàn Thị Trà M bị đề nghị xử phạt hành chính về hành vi gây tổn hại sức khỏe của người khác.
Tại Quyết định xử phạt hành chính số 2460/QĐ-XPHC ngày 13 tháng 7 năm 2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành xác định: Bà Đoàn Thị Trà M đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính: Vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 04 tháng 4 năm 2023, tại ấp C, xã A huyện Châu Thành, bà Đoàn Thị Trà M có hành vi gây tổn hại sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà Đoàn Thị L. Hậu quả: Đoàn Thị L bị tổn thương nông vùng đầu theo giấy ra viện ngày 10 tháng 4 năm 2023 và giấy chứng nhận thương tích số 88/CN/2023, ngày 18 tháng 4 năm 2023 của Bệnh viện đa khoa Long An. Tại phiên tòa, bà M đã thừa nhận đã nhận quyết định nêu trên nhưng chưa nộp tiền phạt. Do đó, có căn cứ xác định bà Đoàn Thị Trà M có hành vi gây tổn hại sức khỏe cho bà Đoàn Thị L bị tổn thương nông vùng đầu.
Quá trình xử lý sự việc, công an xã A đã tiến hành lấy lời khai, thu thập các tài liệu, chứng cứ, thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, xử phạt hành chính đối bà M đúng theo quy định của pháp luật. Do vậy, có căn cứ xác định: Thương tích của bà L do bà Đoàn Thị Trà M gây ra nên bà M phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại.
Bà L xác định bà và ông U buôn bán quần áo, bán bánh mì và đã được trưởng ấp xác nhận. Do vậy, việc bà L, ông U xác định: Thu nhập bình quân mỗi ngày của bà L 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và thu nhập bình quân mỗi ngày của ông U 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) là có căn cứ nên được Hồi đồng xét xử chấp nhận.
Xét thấy tổng số tiền bà Đoàn Thị L yêu cầu bà Đoàn Thị Trà M bồi thường với số tiền 6.839.391đ (sáu triệu tám trăm ba mươi chín nghìn ba trăm chín mươi mốt đồng) là phù hợp với chi phí tiền thuốc ngày 04 tháng 4 năm 2023, ngày 10 tháng 4 năm 2023, hóa đơn ngày 07 tháng 4 năm 2023, chi phí tiền thuốc ngày 10 tháng 4 năm 2023, hóa đơn ngày 16 tháng 4 năm 2023, hóa đơn ngày 18 tháng 4 năm 2023, Tiền mất thu nhập của bà L, tiền mất thu nhập của ông U.
Từ các phân tích nêu trên, xét thấy yêu cầu của nguyên đơn và đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Buộc bà Đoàn Thị Trà M bồi thường thiệt hại cho cho bà L tổng số tiền 6.839.391đ (sáu triệu tám trăm ba mươi chín nghìn ba trăm chín mươi mốt đồng).
Bà Đoàn Thị L không chịu chi phí thu thập tài liệu, chứng cứ, bà Đoàn Thị L đã nộp số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) và đã hoàn trả cho bà Đoàn Thị L số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) theo các biên bản giao nhận tiền ngày 12 tháng 3 năm 2024 và ngày 12 tháng 7 năm 2024.
Án phí dân sự có giá ngạch: Bà Đoàn Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bà L đã được miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Đoàn Thị Trà M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 6.839.391đ (sáu triệu tám trăm ba mươi chín nghìn ba trăm chín mươi mốt đồng) x 5% = 341.969đ (ba trăm bốn mươi mốt nghìn chín trăm sáu mươi chín đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; khoản 2, Điều 161; khoản 1, Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
- Áp dụng các Điều 357, 468, 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật Dân sự;
- Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị L về việc buộc Đoàn Thị Trà M bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Buộc Đoàn Thị Trà M có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bà Đoàn Thị L tổng số tiền là 6.839.391đ (sáu triệu tám trăm ba mươi chín nghìn ba trăm chín mươi mốt đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên, thì phải trả lãi phát sinh trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, tại thời điểm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí: Bà Đoàn Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà L đã được miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Đoàn Thị Trà M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 341.969đ (ba trăm bốn mươi mốt nghìn chín trăm sáu mươi chín đồng).
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử vụ án theo trình tự phúc thẩm. Riêng ông Trần Văn U có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử vụ án theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nôi nhaän: - TAND tænh Long An (1b); - VKSND huyện Châu Thành (2b); - Chi cục THA huyện Châu Thành (1b); - Caùc ñöông söï (1b); - Löu HS (1b); Löu VT (1b) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Diệp Song Tiền |