- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Văn L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Mai Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2023/HSST Ngày: 14-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thái.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bình
Bà Nguyễn Thị Phương Thảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Dung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023 đối với:
* Bị cáo: Mai Văn L; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 24 tháng 8 năm 1985 tại Quảng Nam; Nơi ĐKNKTT: thôn E, xã E, huyện Z, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Con ông: Mai Văn L1 và bà Trần Thị T1, có vợ là Nguyễn Thị L và 03 con (sinh năm 2008, 2012, 2017); Tiền sự: Không.
Tiền án:
- Ngày 27.02.2006, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 16/2006/HSST.
- Ngày 25.12.2007, bị Tòa án nhân dan thành phố Đà Nẵng xử phạt 04 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 175/2007/HSPT.
- Ngày 22.4.2011, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 38/2011/HSST.
- Ngày 23.4.2012, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 03 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 50/2012/HSST.
- Ngày 10.9.2015, bị Tòa án nhân dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 42/2015/HSST.
- Ngày 25.9.2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 05 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 197/2017/HSPT.
Bị cáo bị tạm giữa, tạm giam từ ngày 21.3.2023, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Phạm Ngọc D - Sinh năm 1975 - Địa chỉ: số X, đường Y, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Văn Bá T - Sinh ngày 24.01.2009 - Địa chỉ: số S, đường G, phường H, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng. Vắng mặt
Người giám hộ: bà Lê Thị Mỹ Q, sinh năm 1991; ông Lê Thanh K, sinh năm 1973 – Địa chỉ: số S, đường G, phường H, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Rạng sáng ngày 18.3.2023, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Mai Văn L cùng Lê Văn Bá T rủ nhau đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 04h ngày 18.3.2023, L điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 43D1- 156.28 chở T đi đến khu vực trước số nhà X, đường Y, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện xe ôtô nhãn hiệu Huyndai Santafe BKS 43A- 473.22 của anh Phạm Ngọc D đang để phía trước nhà không có người trông coi. L và T đi đến kiểm tra thì phát hiện cửa xe không khoá nên mở cửa xe lấy 01 đồng hồ nhãn hiệu Casio MTP-V300D bằng kim loại màu trắng, 01 đồng hồ nhãn hiệu Casion LTP-V300D bằng kim loại màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng, 01 hộp đựng (bên trong có 02 tai nghe) nhãn hiệu Apple Airpod 2 màu trắng, 02 vòng đeo tay được kết nối từ nhiều hạt bằng gỗ rồi tẩu thoát. Đến khoảng 06h30’ cùng ngày anh D thức dậy phát hiện tài sản bị mất nên trình báo Công an phường Hoà Minh.
Đến 09h00’ ngày 21.3.2023, Mai Văn L tự đến Công an phường Hoà Minh khai báo và giao nộp 01 đồng hồ nhãn hiệu Casio MTP-V300D bằng kim loại màu trắng, 01 đồng hồ nhãn hiệu Casion LTP-V300D bằng kim loại màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng, 02 vòng đeo tay được kết nối từ nhiều hạt bằng gỗ và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lê Văn Bá T đã khai nhận hành vi trộm cắp cùng với Mai Văn L và giao nộp 01 hộp đựng (bên trong có 02 tai nghe) nhãn hiệu Apple Airpod 2 màu trắng cho Cơ quan điều tra.
Theo kết luận định giá tài sản số 29/KL-HĐĐGTS ngày 27.3.2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận Liên Chiểu kết luận: 01 đồng hồ nhãn hiệu Casio MTP-V300D bằng kim loại màu trắng trị giá 1.020.000 đồng, 01 đồng hồ nhãn hiệu Casion LTP-V300D bằng kim loại màu trắng trị giá 1.020.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng trị giá 1.150.000 đồng, 01 hộp đựng (bên trong có 02 tai nghe) nhãn hiệu Apple Airpod 2 màu trắng trị giá 1.800.000 đồng, 02 vòng đeo tay được kết nối từ nhiều hạt bằng gỗ không có cơ sở xác định giá trị. Tổng giá trị tài sản là 4.990.000 đồng (bốn triệu chín trăm chín mươi ngàn đồng).
Về dân sự: Người bị hại Phạm Ngọc D đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm.
* Cáo trạng số: 53/CT-VKS ngày 01 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố Mai Văn L về tội “Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt Mai Văn L từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Về xử lý tang vật: Đối với 01 đồng hồ nhãn hiệu Casio MTP-V300D bằng kim loại màu trắng, 01 đồng hồ nhãn hiệu Casion LTP-V300D bằng kim loại màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng, 01 hộp đựng (bên trong có 02 tai nghe) nhãn hiệu Apple Airpod 2 màu trắng, 02 vòng đeo tay được kết nối từ nhiều hạt bằng gỗ: Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sỡ hữu nên không có ý kiến. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius gắn BKS 43D1-156.28 là phương tiện phạm tội nên đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Tiếp tục quy trữ tại hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa 02 đoạn video liên quan đến hành vi phạm tội của Mai Văn L. Về trách nhiệm dân sự: người bị hại không có yêu cầu nên không đề cập.
* Tại phiên tòa, bị cáo Mai Văn L không có ý kiến gì đối với luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của bản thân, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với xã hội, làm ăn lương thiện nuôi 03 con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Liên Chiểu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội thì thấy: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai khác và chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 04h00’ ngày 18.3.2023 tại trước số nhà X, đường Y, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, Mai Văn L cùng với Lê Văn Bá T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 đồng hồ nhãn hiệu Casio MTP-V300D bằng kim loại màu trắng, 01 đồng hồ nhãn hiệu Casion LTP-V300D bằng kim loại màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng, 01 hộp đựng (bên trong có 02 tai nghe) nhãn hiệu Apple Airpod 2 màu trắng, 02 vòng đeo tay được kết nối từ nhiều hạt bằng gỗ của anh Phạm Ngọc D trị giá 4.990.000 đồng.
Tại Bản án số 197/2017/HSPT ngày 25.9.2017 của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng áp dụng tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 để xử phạt bị cáo, chưa được xoá án tích nay bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, hành vi trên đây của Mai Văn L đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đối với Lê Văn Bá T: Tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì T chưa đủ 16 tuổi nên không xử lý hình sự mà xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo đối với T là phù hợp.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy:
Mai Văn L là người trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe nhưng do ham hưởng thụ mà không muốn bỏ sức lao động nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu để thực hiện hành vi phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, mà còn ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương.
Xét bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, đã tự động đến Cơ quan Công an khai nhận về hành vi phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có nhân thân rất xấu: trước lần phạm tội này bị cáo đã 06 lần bị Tòa án xét xử về hành vi trộm cắp tài sản nhưng vẫn không lấy đó làm bài học, ăn năn hối cải để sửa đổi bản thân mà vẫn tiếp tục lao vào con đường phạm tội nên đối với lần phạm tội này của bị cáo cần phải xử lý nghiêm, nhất thiết cách ly ra khỏi xã hội một thời gian dài để giáo dục bị cáo trở thành người có ích và phòng ngừa chung.
Về tang vật thu giữ của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, nhận thấy:
Đối với 01 đồng hồ nhãn hiệu Casio MTP-V300D bằng kim loại màu trắng, 01 đồng hồ nhãn hiệu Casion LTP-V300D bằng kim loại màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng, 01 hộp đựng (bên trong có 02 tai nghe) nhãn hiệu Apple Airpod 2 màu trắng, 02 vòng đeo tay được kết nối từ nhiều hạt bằng gỗ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sỡ hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen, biển kiểm soát 43D1-156.28, số máy 728205, số khung 728192 là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 đĩa DVD chứa 02 đoạn video liên quan đến hành vi phạm tội của Mai Văn L cần tiếp tục quy trữ tại hồ sơ.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét thấy nội dung đề nghị tại phiên tòa của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu về tội danh, điều khoản và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo cơ bản phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Mai Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Mai Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
1. Căn cứ: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt Mai Văn L: 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 21/3/2023).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen, biển kiểm soát 43D1-156.28, số máy 728205, số khung 728192
Tiếp tục quy trữ tại hồ sơ vụ án đối với 01 đĩa DVD chứa 02 đoạn video liên quan đến hành vi phạm tội của Mai Văn L.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Mai Văn L phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
| Nơi nhận: - VKSND Tp Đà Nẵng; - VKSND quận Liên Chiểu; - CQĐT Công an quận Liên Chiểu; - Chi cục THA quận Liên Chiểu; - Sở Tư pháp - Bị cáo; bị hại, người liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA DƯƠNG THỊ THÁI |