- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đăng K - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2023/ HS-ST Ngày 14 tháng 6 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU - TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thị Mỹ Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dư Thị Út và bà Khưu Liên Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đăng K, sinh năm 1980 tại Bạc Liêu; Nơi cư trú: Hẻm S, Khóm H, Phường K, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đăng Châu, sinh năm 1937 và bà Phan Minh Nguyệt (đã chết. Vợ tên Triệu Thị Mỹ H, sinh năm 1989. Có 01 người con. Tiền sự: Ngày 31/12/2020, bị áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng, đã chấp hành xong. Tiền án: không. Bị cáo tại ngoại. (có mặt)
Bị hại: Ông Diệp Học M, sinh năm 1966. Nơi cư trú: Số O, Khóm H, Phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 30/11/2022, Nguyễn Đăng K đi bộ từ chợ Phường 1, thành phố Bạc Liêu về nhà tại Hẻm 3, Khóm 10, Phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu đến Khóm 9, Phường 1, thành phố Bạc Liêu phát hiện 01 xe mô tô, nhãn hiệu Fuljir, màu đỏ, biển kiểm soát 94F4-4466 có cắm chìa khóa xe, đang dựng trước sân nhà của ông Diệp Học M, thấy không ai trông coi, Khoa lên xe, mở máy và điều khiển xe đến khi vực bến xe Láng Trâm, thuộc xã Tân Thạnh, thị xã giá Rai, tỉnh Bạc Liêu dừng lại hỏi tìm nơi để cầm, lúc này có người đàn ông tên Tú nhận cầm với giá 3.000.000 đồng, cầm xong Khoa đón xe về lại thành phố Bạc Liêu. Đến khoảng 02 ngày sau, Khoa nghe một người người bạn nói sự việc trộm xe đã bị camera ghi lại nên Khoa đến nhà đưa ông M xuống bến xe chuộc lại.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTS, ngày 04/4/2023, của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Bạc Liêu kết luận: “01 xe mô tô nhãn hiệu FULJIR, số loại 110LE, màu đỏ, số máy: 1P53FMH-10336006, số khung 110-88000279, gắn biển kiểm soát 94F4-4466 (đã qua sử dụng). Tính đến ngày 30/11/2022 có giá trị thành tiền còn lại là 3.000.000đồng.
Tại bản Cáo trạng số 54/CT-VKS-HS ngày 25/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố các bị cáo Nguyễn Đăng K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đăng K và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tuyên bố Nguyễn Đăng K phạm tội “Trộmcắp tài sản”.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng K từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Trộmcắp tài sản”.
+ Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tài sản và không yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét.
+ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
- Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bạc Liêu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Bị hại đã được triệu tập xét xử hợp lệ nhưng vắng mặt, xét thấy sự vắng mặt của bị hại không cản trở cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.
[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm thực hiện tội phạm và đặc điểm tài sản bị chiếm đoạt; đồng thời phù hợp với kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bạc Liêu, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Từ những chứng cứ trên, đủ căn cứ chứng minh:
Khoảng 06 giờ, ngày 30/11/2022, tại Khóm 9, Phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu bị cáo Nguyễn Đăng K đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản 01 xe mô tô, nhãn hiệu Fuljir, màu đỏ, biển kiểm soát 94F4-4466 có trị giá thành tiền là 3.000.000 đồng của ông Diệp Học M.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Đăng K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần xử phạt đối với bị cáo để giáo dục bị cáo và còn nhằm mục đích phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có 02 tình tiếc giảm nhẹ nên được Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
[6] Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.
[7] Người đàn ông tên Tú không xác định được lý lịch nhân thân nên chưa làm việc được.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[9] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ được chấp nhận, tuy nhiên với mức độ tính chất của hành vi bị cáo thì mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là hơi nghiêm khắc.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Khoản 1 Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng K 03 tháng tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc các bị cáo Nguyễn Đăng K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Án xử công khai, bị cáo (có mặt tại phiên tòa) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại (vắng mặt tại phiên tòa) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND Tp. Bạc Liêu; - Sở Tư pháp tỉ nh Bạc Liêu; - Nhà tạm giữ Công an Tp. Bạc Liêu; - Chi cục THADS Tp. Bạc Liêu; - Bị cáo; - Bị hại ; - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thị Mỹ Hằng |