vanban.org

Bản án 68/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hải Châu, TP Đà Nẵng Tuyên án 23/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Phùng Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: bị cáo Phùng Ngọc T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 02 năm 2023 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Phùng Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phùng Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HẢI CHÂU – TP. ĐÀ NẴNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2023/HS-ST
Ngày 23 tháng 6 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thanh Anh

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Công Lương

- Ông Lê Phú Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Phùng Ngọc T (tên gọi khác: Cu Lỳ); sinh ngày 03 tháng 02 năm 19xx tại thành phố Đà Nẵng. Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: K39x Hoàng D, phường Bình T, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 02/12 (biết đọc, không biết viết); dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam. con ông Phùng C (sinh năm: 19xx) và bà Lê Thị N (chết). Bị cáo là con duy nhất.

* Tiền án:

- Bản án HSST số 57/2002/HSST ngày 19/7/2002 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999.

- Bản án HSST số 94/2002/HSST ngày 14/8/2002 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 4 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 133 BLHS năm 1999.

- Bản án HSST số 25/2008/HSST ngày 25/3/2008 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xử phạt 9 năm tù về tội “Cướp tài sản” và “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 133 và khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999.

Chưa thi hành phần án phí, bồi thường dân sự nên chưa được xóa án tích.

* Tiền sự: Không;

* Nhân thân:

- Quyết định số 3753 ngày 05/7/1999 của UBND thành phố Đà Nẵng, áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng.

- Quyết định số 1001 ngày 20/8/2007, bị Công an phường Hải Châu I xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17/02/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: ông Ngô Quốc Đ – sinh năm: 1997. Địa chỉ: đường Thạch S, phường Hòa H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 27/12/2022, Phùng Ngọc T thuê xe du lịch Grab thì được anh Ngô Quốc Đ điều khiển xe ô tô hiệu Kia Cerato, biển số 43A-53x.xx đến chở Phùng Ngọc T. Đi từ đường Phạm Như Xương, thành phố Đà Nẵng đến đầu kiệt 254 Hoàng Diệu, phường Nam Dương, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Trong lúc xe chạy, T thấy 01 điện thoại di động , nhãn hiệu Oppo A52 của ông Đ rơi xuống sàn xe, ông Đ đang tập trung lái xe nên không chú ý, T dùng chân hất điện thoại lại gần và trộm cắp giấu vào túi quần. Khi đến điểm dừng thì T nhanh chóng thanh toán tiền cước và rời đi.

Ngay sau đó ông Đ phát hiện bị mất điện thoại và nghi ngờ T lấy trộm nên trình báo Công an phường Nam Dương, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Đến khoàng 00 giờ 45 phút ngày 28/12/2022, T nhìn thấy lực lượng tuần tra Công an phường Nam Dương thì lập tức bỏ chạy, trên đường chạy T vứt điện thoại xuống đường nhưng bị phát hiện, thu giữ và đưa T về trụ sở làm việc. T đã khai nhận hành vi trộm cắp như trên.

* Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A52, màu xanh rêu, Imei 1: 8603540493xxxxx, Imei 2: 8903540493xxxxx.

* Theo kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐG ngày 16/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hải Châu, kết luận: Chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A52 nêu trên có trị giá 2.500.000đồng.

Quá trình điều tra, Phùng Ngọc Thắng đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp như trên. Việc khai nhận của Thắng phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản làm việc với đối tượng, lời khai của bị hại, vật chứng thu giữu và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

* Xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu đã trả lại chiếc điện thoại hiệu Oppo A52 nêu trên cho bị hại Ngô Quốc Đ là có căn cứ.

* Về dân sự: Ông Ngô Quốc Đ đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 11/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố Phùng Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phùng Ngọc T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố là đúng người, không oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phùng Ngọc T và đề nghị:

- Căn cứ: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phùng Ngọc T từ 02 (Hai) năm tù đến 03 (Ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về phần dân sự: Tại hồ sơ vụ án thể hiện người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

* Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã thấy hành vi phạm tội của bị cáo là sai trái, bị cáo rất ân hận về hành vi của mình gây ra, bị cáo mong muốn Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hải Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quy trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Khoảng 23 giờ ngày 27/12/2022, Phùng Ngọc T thuê xe dịch vụ Grab và được anh Ngô Quốc Đ điều khiển xe ô tô hiệu Kia Cerato, biển số 43A-53x.xx chở đi từ đường Phạm Như Xương đến đầu kiệt 254 Hoàng Diệu, phường Nam Dương, thành phố Đà Nẵng. Trên đường đi, lợi dụng lúc anh Đ không chú ý, T lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A52 trị giá 2.500.000đồng. Theo Bản án số 25/2005/HSST ngày 25/3/2008 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999 (đã áp dụng tình tiết “Tái phạm nguy hiểm”), chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phùng Ngọc T đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy rằng: Chỉ vì muốn có điệnt hoại để dùng mà bị cáo đi vào con đường phạm tội, bị cáo lợi dụng lúc chủ sở hữu là anh Đ sơ hở, đã lén lút chiếm đoạt tài sản là chiếc điện thoại di động anh Đ để trên xe ô tô bị rơi xuống sàn xe. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội. Bị cáo có nhân thân rất xấu, đã nhiều lần bị xử phạt về hành vi "Trộm cắp tài sản" nhưng vẫn tiếp tục phạm tội trộm cắp nên đối với bị cáo cần được xử lý nghiêm. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Qua điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự sẽ được Hội đồng xét xử áp dụng xem xét về phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là ông Ngô Quốc Đ đã nhận lại tài sản là điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A52, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết (Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu, ngày 08/02/2023)

Từ những phân tích trên, xét lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân Hải Châu, thành phố Đà Nẵng về tội danh và áp dụng các điều luật cũng như đề nghị mức hình phạt, trách nhiệm dân dự là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí:

- Án phí HSST bị cáo phải chịu 200.000đồng

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Phùng Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Phùng Ngọc T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 02 năm 2023

2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Án phí HSST: bị cáo Phùng Ngọc T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

3. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết tại địa phương

Cỡ chữ