vanban.org

Bản án 68/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 19/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo: Lê Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

/ Về điều khoản áp dụng và hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Lê Văn B 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? / Về tội danh: Tuyên bố bị cáo: Lê Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN H
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2023/HS-ST
Ngày: 19/04/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H

THÀNH PHỐ H

* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Duy V.

- Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn T; ông Nguyễn Ngọc M

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương A, Thư ký Tòa án nhân dân quận

H, thành phố H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H tham gia phiên toà: Ông Hoàng

Tuấn A - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 04 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận H, thành phố H, Tòa án nhân dân quận H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2023/HSST ngày 03 tháng 03 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:

Lê Văn B, sinh năm: 1988; giới tính: nam; ĐKHKTT: số 637, tổ 7, phường Phú Lãm, quận H, thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Con ông Lê Văn H, sinh năm: 1959, con bà Ngô Thị M, sinh năm: 1962; Vợ: Nguyễn Mai T, sinh năm: 1992; có 01 con sinh năm: 2017; Tiền án, tiền sự: không;

*Nhân thân:

1. Bản án số 43/2011/HSST ngày 18/11/2011 của Tòa án nhân dân quận H xử phạt 08 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Bản án số 146/2012/HSST ngày 17/4/2012 của Tòa án nhân dân quận H xử phạt 30 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với hình phạt 08 tháng tù của bản án số 43/2011/HSST ngày 18/11/2011 buộc chấp hành hình phạt chung là 38 tháng tù, chấp hành xong hình phạt ngày 02/8/2014, đã được xóa án tích.

Bị cáo đầu thú, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2022 đến nay tại Trại tạm giam số 2- Công an TP. H, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Dự án Khu nhà ở tái định cư Trại tạm giam T16, phường Phú Lương, quận H, thành phố H. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Văn H, sinh năm 1953; ĐKHKTT: Tổ 5 Thôn Vân Nội, phường Phú Lương, quận H, thành phố H. Chức vụ: Nhân viên hợp đồng bảo vệ, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền ăn tiêu, khoảng 23 giờ ngày 18/12/2022 Lê Văn B trú tại: số 637, tổ 7, phường Phú Lãm, quận H, lang thang đi bộ đến khu đất dự án Nhà ở tái định cư Trại tạm giam T16- Bộ Công an địa chỉ: tổ 2, phường Phú Lương, quận H, tìm sơ hở để trộm cắp tài sản. Đến nơi, B phát hiện 01 tủ điện trong khu đất có dây cáp điện ngầm nối giữa các tủ điện với nhau (chưa đấu điện), nên đã nảy sinh ý định trộm cắp cáp điện lấy lõi đồng bán lấy tiền ăn tiêu. Để thực hiện việc trộm cắp, B về nhà lấy cưa, dao dọc giấy, kìm, cờ lê, tay công, mang đến khu đất. Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 19/12/2022, B dùng kìm, cưa sắt mang theo cắt đầu dây cáp nối với tủ điện rồi đi một đoạn cách tủ điện khoảng 48m và sử dụng cờ lê đào xuống đất. Khi thấy đoạn cáp điện ngầm, B dùng cưa cắt đứt rồi quay lại chỗ tủ điện kéo đoạn dây đã cắt này lên mặt đất. Sau đó, B cắt đoạn dây cáp thành 06 đoạn ngắn và lấy dao dọc giấy, kéo và cưa sắt tách lớp vỏ nhựa màu đen- trắng- bạc bên ngoài. Tách xong, B đem phần bên trong của dây cáp đến một nhà bỏ hoang ở tổ 2, phường Phú Lương (cách nơi trộm cắp khoảng 60m) rồi tiếp tục ngồi tách lớp vỏ nhựa để lấy lõi kim loại đồng bên trong. Đến khoảng 10 giờ ngày 19/12/2022, khi B đang tách lớp vỏ nhựa dây cáp điện thì bị tổ công tác Công an phường Phú Lương, làm nhiệm vụ đi tuần tra, phát hiện đã đưa B về trụ sở để làm việc. Sau đó, Lê Văn B đã xin đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Vật chứng đã thu giữ của B, gồm:

- Dây cáp điện đã bóc vỏ nhựa: 02 đoạn dây kim loại đồng (đoạn 1 dài 9,5m, đoạn 2 dài 7m); Dây cáp điện chưa bóc lớp vỏ nhựa trong suốt có 04 đoạn gồm: đoạn 1 đang xoắn 04 dây dài 8,25m; đoạn 2 đăng xoắn 04 dây dài 6,75m; đoạn 3 đã tách 01 dây dài 7m; đoạn 4 đã tách 01 dây dài 9,5m.

- 01 cưa kim loại kích thước (15x2)cm; 01 kéo kim loại dài 20cm chuôi nhựa; 01 cưa kim loại kích thước (30x2)cm; 01 mỏ lết Weishida 300mm, dài 30cm; 01 tô vít kim loại dài 20 cm, có tay cầm bọc nhựa màu vàng; 01 hộp nhựa màu vàng chứa nhiều lưỡi dao dọc giấy bằng kim loại; 01 kìm bằng kim loại dài 18cm, tay bọc nhựa đỏ- đen dài khoảng 10cm; 02 tay công vặn ốc vít chữ T bằng kim loại có tay công bọc nhựa loại 10mm và 13mm.

Ngày 19/12/2022, ông Dương Văn Hạnh, SN: 1953, trú tại: tổ 5 Vân Nội, phường Phú Lương, quận H, (Nhân viên hợp đồng bảo vệ cho Ban quản lý Dự án nhà ở tái định cư Trại tạm giam T16- Bộ Công an) có đơn trình báo Công an phường Phú Lương về việc bị mất trộm sản, Công an phường Phú Lương đã bàn giao Lê Văn B cùng vật chứng cho Cơ quan CSĐT Công an quận H để điều tra xử lý

Tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định: Tài sản bị trộm cắp là 01 đoạn dây cáp điện thông số kỹ thuật DSTA 4cx16 CADI-SUN ELECTRIC CABLE dài 48m (đã bị cắt, có đoạn bị bóc vỏ nhựa, có đoạn bị bóc vỏ nhựa còn lại là lõi đồng).

Ngày 20/12/2022, Cơ quan điều tra có văn bản yêu cầu định giá tài sản đối với 01 đoạn dây cáp điện bị trộm cắp trên. Tại bản kết luận định giá tài sản số 260/KL-HĐĐGTS ngày 20/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận H, kết luận:

Giá trị tài sản 01 đoạn dây cáp điện thông số kỹ thuật DSTA 4cx16 CADI-SUN ELECTRIC CABLE, chiều dài 48m (hiện trạng đã bị tách lớp vỏ nhựa, bên ngoài còn các lõi đồng) có trị giá 4.800.000 đồng.

Quá trình điều tra, ngày 15/02/2023 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 06 đoạn dây cáp điện (tình trạng đã được tách vỏ nhựa như biên bản thu giữ) cho Ban quản lý dự án khu Nhà ở tái định cư Trại giam T16- Bộ Công an, đại diện được ủy quyền là ông Dương Văn H, đã nhận lại và không có ý kiến gì về phần bồi thường dân sự.

Tại Cáo trạng số: 24/CT-VKS-HS ngày 01/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận H truy tố bị cáo: Lê Văn B về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

* Bị cáo Lê Văn B thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin được hưởng mức án thấp nhất.

*Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn B phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt: Bị cáo Lê Văn B từ 18 đến 24 tháng tù, đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an quận H và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vụ án đủ điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn, theo quy định tại Điều 456, 457 Bộ luật tố tụng hình sự, nên cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát quận H đã áp dụng là có căn cứ.

. Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 19/12/2022, tại khu đất dự án khu Nhà ở tái định cư Trại tạm giam T16- Bộ Công an thuộc tổ 2, phường Phú Lương, quận H, thành phố H, lợi dụng sơ hở của người quản lý, Lê Văn B đã có hành vi lén lút, sử dụng các công cụ phương tiện mang theo cắt trộm 01 đoạn dây cáp điện (dùng đấu nối các tủ điện), dài 48m có trị giá 4.800.000 đồng. Khi đang cắt nhỏ và bóc tách vỏ nhựa lấy lõi đồng tại một nhà hoang ở gần đó để bán lấy tiền ăn tiêu, thì bị tổ công tác Công an phường Phú Lương tuần tra, phát hiện thu giữ vật chứng, chuyển cho Cơ quan CSĐT Công an quận H xử lý. Do đó Viện kiểm sát nhân dân quận H, đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an của xã hội. Do đó cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung đối với xã hội.

Tuy nhiên khi xem xét mức hình phạt đối với các bị cáo thì thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội, bị cáo đã đầu thú. Nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó áp dụng mức hình phạt như đề xuất của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

- Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có công ăn việc làm, thu nhập kinh tế không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Do người bị hại không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Các vấn đề khác:

- Về xử lý vật chứng: xét các vật chứng đã thu giữ, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy: 01 cưa kim loại kích thước (15x2) cm; 01 kéo có lưỡi bằng kim loại, chuôi kéo bằng nhựa dài 20cm; 01 cưa kim loại kích thước (30x2) cm; 01 cờ lê kim loại dài 30 cm (có chữ Weishida 300mm); 01 tô vít kim loại dài 20 cm, có tay cầm bọc nhựa màu vàng; 01 hộp nhựa màu vàng chứa nhiều lưỡi dao dọc giấy bằng kim loại; 01 kìm bằng kim loại dài 18 cm, có tay bọc kìm bằng nhựa màu đỏ - đen; 02 tay công vặn ốc vít chữ T bằng kim loại có tay công bọc nhựa loại 10mm và 13mm.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1./ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo: Lê Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2./ Về điều khoản áp dụng và hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn B 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2022.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 cưa kim loại kích thước (15x2) cm; 01 kéo có lưỡi bằng kim loại, chuôi kéo bằng nhựa dài 20cm; 01 cưa kim loại kích thước (30x2) cm; 01 cờ lê kim loại dài 30 cm (có chữ Weishida 300mm); 01 tô vít kim loại dài 20 cm, có tay cầm bọc nhựa màu vàng; 01 hộp nhựa màu vàng chứa nhiều lưỡi dao dọc giấy bằng kim loại; 01 kìm bằng kim loại dài 18 cm, có tay bọc kìm bằng nhựa màu đỏ - đen; 02 tay công vặn ốc vít chữ T bằng kim loại có tay công bọc nhựa loại 10mm và 13mm.

Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/4/2023 giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra và Chi cục thi hành án dân sự quận H).

3./ Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Lê Văn B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ