vanban.org

Bản án 68/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 04(bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2022. Về xử lý vật chứng : Căn cứ Điều 46, Điều 47, Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106, Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2023/HS-ST
Ngày: 27- 3- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tín

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vương Tấn Độ

2. Bà Trần Thị Thiếu Liên

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Lệ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 54/2023/TLST-HS, ngày 07 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Văn T; sinh năm 1997, tại:Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Số M đường Âu Cơ, phường 14, quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: Số N tổ 8, ấp 2 B, xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ học vấn: 6/12; con ông Phạm Văn H, sinh năm 1962(Đã chết) và bà Phạm Thị U, sinh năm 1966; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo bị bắt ngày 06/8/2022.

Bị hại:

Bà Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 1980; Trú tại: Số K đường Đề Thám, phường Cô Giang, quận 01, Thành phố Hồ Chí Minh(Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Phạm Thị Tuyết T, sinh năm 1975; Trú tại: Số L đường Phạm Thế Hiển, phường 5, quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh(Vắng mặt)

Người làm chứng:

1/Ông Phan Bùi Anh T, sinh năm 2002; Trú tại : Số G đường Liên Khu 4-5, phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh(Vắng mặt).

2/Ông Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1995; Trú tại: Số H, đường Hồ Văn Long, khu phố 1, phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh(Vắng mặt).

3/Ông Đặng Kim H, sinh năm 1978; Trú tại: Số Y đường số 8, phường Bình Hưng Hoà B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 06/8/2022, đối tượng tên Hậu (Chưa rõ lai lịch) điều khiển xe môtô hiệu Honda Wave, biển số 52LB-39xx đến nhà của Phạm Văn T tại Nhà không số, Tổ 8, Ấp 2B, xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh rủ T đi cướp giật tài sản bán lấy tiền tiêu xài thì T đồng ý. Hậu điều khiển xe môtô chở T đi qua nhiều tuyến đường tìm kiếm người nào sơ hở tài sản để cướp giật. Khi đến trước số 56/5 đường Liên Khu 4-5, phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân thì Hậu phát hiện chị Nguyễn Thị Tuyết L đang điều khiển xe môtô Sym Attila, biển số 59F1-055.xx bên trong túi quần phía trước bên trái của chị L có để 01 chiếc điện thoại hiệu OPPO A55 nhô ra phía bên ngoài nên Hậu ra hiệu cho T, đồng thời điều khiển xe áp sát phía bên trái của chị L để T ngồi phía sau dùng tay phải giật điện thoại hiệu OPPO A55 từ trong túi quần chị L, chị L phát hiện truy hô “cướp..cướp..” rồi cùng người dân gần đó truy đuổi, Hậu tăng tốc xe bỏ chạy đến trước nhà số 390/65/59 Quốc Lộ 1, phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân thì xe môtô bị tắt máy nên người dân đuổi kịp và bắt giữ T cùng với chiếc điện thoại hiệu OPPO A55 vừa giật được, riêng Hậu chạy bộ tẩu thoát. Vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân thụ lý điều tra theo thẩm quyền.

Vật chứng của vụ án:

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO A55 đã qua sử dụng là tài sản bị cáo T cướp giật, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản trên cho bị hại;

- 01 áo thun nam sọc caro màu trắng đen; 01 quần Jean nam màu đen;

- 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 52LB-39xx thu giữ của đối tượng Hậu (chưa rõ nhân thân lai lịch) sử dụng để cướp giật tài sản. Qua xác minh xe trên do chị Phạm Thị Tuyết T đứng tên chủ sỡ hữu. Qua làm việc, chị T cho biết vào năm 2015 chị T đã bán xe trên cho một người không rõ nhân thân lai lịch với giá 9.000.000 đồng và không làm thủ tục sang tên đổi chủ. Bản thân chị T không biết đối tượng Hậu và bị cáo Phạm Văn T là ai và việc đối tượng Hậu sử dụng xe trên đi cướp giật chị hoàn toàn không biết. Hiện chị T không có yêu cầu gì đối với xe trên. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có ai liên hệ làm việc.

Các vật chứng trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân chờ xử lý.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 478/KL-HĐĐGTS ngày 29/08/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Bình Tân kết luận: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A55, màu xanh, đã qua sử dụng trị giá 2.500.000 đồng;

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường thiệt hại dân sự gì khác.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản cáo trạng số 72/QĐ-VKS, ngày 27/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã truy tố Phạm Văn T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân sau khi phân tích nội dung vụ án, phân tích chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm d Khoản 2 Điều 171 điểm s Khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và đề nghị Hội đồng xét mức hình phạt đối đối bị cáo Phạm Văn T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra truy tố bị cáo Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của họ đã thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật vụ án được thu giữ, phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 171 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài phục vụ nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính, giữa nơi công cộng đông người qua lại bị cáo thực hiện hành vi phạm tội rất táo bạo và liều lĩnh, bất chấp hậu quả xảy ra, qua đó thể hiện ý thức bị cáo rất xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo sử dụng phương tiện xe môtô để thực hiện hành vi cướp giật là dùng thủ đoạn nguy hiểm để phạm tội vì hành vi này có thể dẫn đến tai nạn giao thông, có thể xâm hại đến tính mạng và sức khỏe của những người đang lưu thông trên đường phố, gây mất trật tự an toàn giao thông hơn nữa hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật Nhà nước bảo hộ. Mặc khác còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tăn căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để truy tố bị cáo là có căn cứ.

Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét bị cáo có nhân thân tốt bản thân chưa có tiền án, tiền sự tại cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.

[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án nên miễn phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại vắng mặt, nhưng qua hồ sơ thể hiện chị Nguyễn Thị Tuyết L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường, không thắc mắc khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử xét thấy không có gì để giải quyết.

Về vật chứng vụ án: Đối với 01 chiếc xe môtô hiệu Hoda Wave, biển số 52LB-39xx qua xác minh xe trên do chị Phạm Thị Tuyết T đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, chị T cho biết vào năm 2015 chị T đã bán xe trên cho một người không rõ nhân thân lai lịch với giá 9.000.000 đồng và không làm thủ tục sang tên đổi chủ. Bản thân chị T không biết đối tượng Hậu và bị cáo Phạm Văn T là ai và việc đối tượng Hậu sử dụng xe trên đi cướp giật chị hoàn toàn không biết. Hiện chị T không có yêu cầu gì đối với xe trên. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có ai liên hệ làm việc. Hội đồng xét xử quyết định giao Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân tiếp tục đăng thông tin tìm chủ sở hữu chiếc xe nói trên trong thời hạn 03 tháng tính từ ngày tuyên án nêu không có chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 cái áo thun nam sọc caro màu trắng đen; 01 cái quần jean nam màu đen bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí hình sự sơ thẩm : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 04(bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2022.

2.Về xử lý vật chứng : Căn cứ Điều 46, Điều 47, Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106, Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ 01 cái áo thun nam sọc caro màu trắng đen; 01 cái quần jean nam màu đen.

Giao Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân tiếp tục đăng thông tin tìm chủ sở hữu chiếc xe môtô hiệu Hoda Wave, biển số 52LB-39xx trong thời hạn 03 tháng tính từ ngày tuyên án nếu không có chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số NK23/93TAM ngày 28/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng, nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ