vanban.org

Bản án 68/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 27/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Cao Văn H1, Hoàng Tuyết H phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt Hoàng Tuyết H 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/01/2023. Xử phạt Cao Văn H1 02 (hai) năm 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hoàng Tuyết H và bị cáo Cao Văn H - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Cao Văn H1, Hoàng Tuyết H phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2023/HS-ST.
Ngày 27-9-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐĂK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Chấn và ông Vũ Hoàng Huy.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đăk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên tòa: Ông Phạm Anh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 27/9/2023 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số: 30/2023/HSST-QĐ ngày 22/8/2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hoàng Tuyết H, sinh năm 1979 tại Thành Phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký HKTT: Số C, đường T, phường 6 , Quận 11, Thành Phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở trước khi phạm tội: Số B, đường L, phường T, Quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Kang Q (đã chết) và bà Hồ N (đã chết); bị cáo có chồng Lưu Trí Q1, sinh năm 1978(đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 15/01/2023; hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.

2. Họ và tên: Cao Văn H1, sinh năm 1996 tại tỉnh Nam Định; Nơi đăng ký HKTT: Xóm 5, xã Xuân Vinh, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định; chỗ ở trước khi phạm tội: Số B, đường L, phường T, Quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Cao Văn Kh, sinh năm 1973 và bà Vũ Thị B, sinh năm 1975; bị cáo có vợ là Đỗ Thị Mai Th và 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/01/2019, bị Công an huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính 5.000.000 đồng về hành vi Tàng trữ pháo hoa nổ. Bị cáo đã đóng tiền phạt ngày 29/01/2019. Được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/02/2023 cho đến nay - Có mặt.

Bị hại:

1. Nguyễn Đăng B, sinh năm 1962 - Có mặt.

Nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn Đăk M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

2. Lê Xuân L, sinh năm 1958 – Vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn V, xã Quảng S, huyện Đắk G’Long, tỉnh Đắk Nông.

3. Tạ Quang Đ, sinh 1969 - Vắng mặt.

Nơi cư trú: Số H, đường Đoàn G, Phường Sơn K, Quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh.

4. Phạm Văn H, sinh năm 1948 – Vắng mặt.

Nơi cư trú: Số M, đường Cách Mạng Tháng T, Phường 5, Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh.

5. Hoàng Văn Đ, sinh năm 1995 – Vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn F, xã Đắk P’L, huyện Đắk G’Long, tỉnh Đắk Nông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Lưu Nhã Th, sinh ngày 22/4/2006 – Vắng mặt.

Nơi cư trú: Số S, đường Tạ U, Phường 6, Quận 11, Thành Phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Trần Long A, sinh năm 1990 – Vắng mặt.

Nơi cư trú: Ấp K, xã Suối Nh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Nguyễn Ngọc Thanh H– Vắng mặt.

Nơi cư trú: Số E, đường Tô Hiến Th, Phường 15, Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cao Văn H1 (sinh năm 1996, trú tại xã Xuân Vinh, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định) và Hoàng Tuyết H (sinh năm 1979, trú tại số S, đường Tạ U, Phường 6, Quận 11, Thành Phố Hồ Chí Minh) nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên cùng nhau truy cập các trang mạng internet để tìm hiểu phương thức, thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng hình thức lừa mua hàng trúng thưởng. Sau khi tìm hiểu, H và H1 thống nhất thuê căn nhà số: 149/47/20 đường Lũy Bán Bích, Phường Tân Thới Hòa, Quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh để làm nơi thực hiện hành vi phạm tội, H và H1 mua 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Asus, 01 máy in hiệu HP để soạn tH1 kịch bản với tiêu đề “CHƯƠNG TRÌNH 4 PHẦN QUÀ” với nội dung đưa ra những thông tin trúng thưởng không có thật, phương pháp thuyết phục, cách nói chuyện trong những tình huống với từng người khác nhau để tạo niềm tin cho khách hàng. Sau đó, cả hai cùng đặt hàng trên app Shoppee (các mặt hàng là đồ gia dụng và thực phẩm chức năng) phục vụ cho việc “gửi hàng – tích điểm – nhận quà”. Để có phương tiện liên lạc với khách hàng, H1 mua 04 số điện thoại 0906709621, 0899023890, 0707297288, 0918356143 (đều là sim rác không chính chủ) và 02 điện thoại di động hiệu Xiaomi, Nokia. Đồng thời, H1 ký hợp đồng vận chuyển HBT4922/VTPost với Tổng công ty cổ phần bưu chính Viettel về việc chuyển hàng cho khách và nhận tiền hàng vào tài khoản số: 28777347 Ngân hàng ACB của H1, còn H1 sử dụng thông tin Căn cước công dân của mình ký hợp đồng với Tổng công ty PFT đăng ký 02 số điện thoại cố định là 02873016689, 02873013336 và mua 06 điện thoại bàn về tự lắp đặt. Sau đó, H đặt khắc 01 con dấu vuông có chữ “Trung tâm mua sắm trực tuyến – Công viên phần mềm Quang Trung – Đường Tô Ký, P. Tân Chánh Hiệp, Q.12, TP. HCM” để đóng lên các thùng hàng trước khi gửi để tạo thêm niềm tin cho khách hàng.

Sau khi chuẩn bị xong công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội thì H lên các trang mạng để mua dữ liệu về thông tin khách hàng (bao gồm các số điện thoại, họ tên, sản phẩm đã từng mua trên mạng của khách hàng) từ các đối tượng không rõ lai lịch trên các hội nhóm “Mua bán Data” in ra giấy A4 đưa cho H1. Sau đó, H1 dùng số điện thoại 0906709621 thông báo là khách đã may mắn trúng thưởng phần quà có giá trị (như điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, xe mô tô nhãn hiệu SH, Ti Vi Samsung, Tủ lạnh Hitachi) đồng thời yêu cầu khách hàng nhận các đơn hàng, gửi tiền về công ty để tích điểm, khi nào trúng thưởng thì Công ty sẽ thu hồi các đơn hàng về để bán cho người khác. Sau khi chiếm đoạt được tiền, H và H1 thống nhất phần doanh số thu về trừ toàn bộ chi phí, số tiền còn lại sẽ chia đôi.

Vào ngày 05/10/2022, Hoàng Tuyết H gọi điện thoại cho ông Nguyễn Đăng B (sinh năm 1962, trú tại Tổ dân phố C, thị trấn Đắk M, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông) và giới thiệu là nhân viên Công ty mua sắm trực tuyến Công viên phần mềm Quang Trung và thông báo rằngđã trúng thưởng 01 Ti vi Sam sung trị giá 38.000.000 đồng và yêu cầu ông B phải nhận các đơn hàng để tích điểm nhận thưởng, đồng thời cam kết thu hồi các đơn hàng đã gửi thì ông B đồng ý. Sau khi ông B nhận, trả đủ tiền cho các đơn hàng để đảm bảo nhận thưởng ban đầu đưa ra thì H1 tiếp tục đưa ra các thông tin gian dối “tăng giá trị giải thưởng” để trốn tránh việc giao thưởng và chiếm đoạt tài sản nhiều hơn. H1 tiếp tục thông báo cho ông B việc ông B đã trúng một giải thưởng có tổng giá trị 289.000.000 đồng gồm 01 Ti vi Sam sung trị giá 38.000.000 đồng, 01 xe mô tô SH trị giá 125.000.000 đồng, 01 điện thoại trị giá 26.000.000 đồng và thẻ mua sắm 100.000.000 đồng, để nhận được giải thưởng này thì ông B phải đóng góp một nửa số tiền trúng thưởng để làm hồ sơ nhận thưởng bằng cách tiếp tục nhận đơn hàng để tích điểm thì ông B đồng ý tham gia. Đến cuối tháng 10/2022, khi ông B yêu cầu được nhận thưởng thì H1 và H mua 01 tủ lạnh Aqua AQR – T239FA(HB) trị giá 5.590.000 đồng (tại điện máy Chợ Lớn, gửi cửa hàng tự giao) gửi cho ông B với lý do là quà tặng riêng không nằm trong giải thưởng vì chậm trễ trao giải nhằm tạo lòng tin cho ông B để ông B tiếp tục nhận các đơn hàng có giá trị cao hơn nhiều lần so với tế. Đến đầu tháng 12/2022, H1 gọi thông báo cho ông B “do chậm trễ trao thưởng nên công ty đền bù 80% số tiền 289.000.000 đồng, hiện giải thưởng tăng lên với tổng số tiền 520.000.000 đồng” (nội dung do H1 tự nghĩ ra không nằm trong kịch bản soạn sẵn trước đó, mục đích để ông B tiếp tục nhận các đơn hàng). Lúc này, ông B yêu cầu được nhận thưởng nên H1 và H mua 01 điện thoại di động hiệu Sam sung A03 trị giá 4.390.000 đồng gửi cho ông B mục đích tạo lòng tin sẽ nhận được số tiền thưởng là 520.000.000 đồng để tiếp tục nhận các đơn hàng có giá trị lớn để chiếm đoạt. Sau đó, Hoàng Tuyết H nhờ Nguyễn Ngọc Thanh H (sinh năm 1992, trú tại số 18, đường Tô Hiến Thành, Phường 15, Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh, là nhân viên bán hàng) gọi cho ông B giả làm nhân viên kho bạc Nhà nước và thông báo cho ông B đến Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thông để nhận thưởng rồi H1 tiếp tục yêu cầu ông B nhận các đơn hàng. Trong khoảng thời gian từ ngày 05/10/2022 đến ngày 27/12/2022, Hoàng Tuyết H đã yêu cầu ông B nhận 11 đơn hàng là thực phẩm chức năng để chiếm đoạt tổng số tiền 175.500.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được, một phần H1 và H dùng chi trả tiền mua hàng, phí gửi, tiền thuê nhà, trả lương nhân viên, trả cước internet, cước điện thoại. Số tiền còn lại H1 và H đã chia nhau tiêu xài cá nhân hết.

Ngoài ra, Cao Văn H1 và Hoàng Tuyết H còn thực hiện 04 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản khác, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng đầu tháng 10/2022, Hoàng Tuyết H sử dụng số điện thoại 02873103336 gọi cho ông Lê Xuân L (sinh năm 1958, trú tại thôn K, xã Quảng S, huyện Đắk G’Long, tỉnh Đắk Nông), giới thiệu là nhân viên Công ty mua sắm trực tuyến Công viên phần mềm Quang Trung và thông báo ông L là một trong bốn người may mắn được chọn ngẫu nhiên để tham gia chương trình trúng thưởng của Công ty, nếu muốn nhận thưởng thì phải nhận một đơn hàng để chứng thực thì ông L đồng ý. H1 đã gửi 03 đơn hàng gồm: thùng hàng thứ nhất là 01 máy đo huyết áp thu về số tiền 1.680.000 đồng, thùng hàng thứ hai là 02 hộp Hồng sâm Hàn quốc thu về số tiền 4.000.000 đồng (tổng số tiền là 8.680.000 đồng). Để trốn tránh việc trao thưởng và tiếp tục lừa để chiếm đoạt được số tiền lớn hơn nên H1 tiếp tục đưa ra thông tin gian dối là ông L đã trúng thưởng tổng giá trị là 289.000.000 đồng gồm 01 Ti vi Sam sung 60 inch trị giá 38.000.000 đồng, 01 xe máy SH trị giá 125.000.000 đồng và 01 điện thoại Sam sung trị giá 26.000.000 đồng và thẻ mua sắm 100.000.000 đồng, để nhận được giải thưởng này ông L phải đóng góp một nửa số tiền thưởng để làm hồ sơ nhận thưởng bằng hình thức tiếp tục nhận đơn hàng để tích điểm thì ông L không đồng ý tham gia và yêu cầu được nhận thưởng là 01 Ti vi Sam sung 60 inch trị giá 38.000.000 đồng nên H1 tắt máy, chặn mọi liên lạc với ông L và chiếm đoạt số tiền 8.680.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng đầu tháng 12/2022, Hoàng Tuyết H gọi điện thoại cho anh Hoàng Văn Đ (sinh năm 1994, trú tại thôn K, xã Đắk P’L, huyện Đắk G’Long, tỉnh Đắk Nông) giới thiệu là nhân viên Công ty mua sắm trực tuyến Công viên phần mềm Quang Trung và thông báo rằng anh Đ là một trong bốn người may mắn được chọn ngẫu nhiên để tham gia chương trình trúng thưởng của Công ty, để nhận thưởng thì phải nhận 01 đơn hàng để chứng thực thì anh Đ đồng ý. H1 gửi cho anh Đ 01 đơn hàng là 01 máy xay sinh tố đa năng thu về số tiền 1.780.000 đồng. Sau đó, H1 tiếp tục gọi điện thoại thông báo anh Đ đã trúng thưởng 01 Ti vi Sam sung 60 inch trị giá 38.000.000 đồng và yêu cầu anh Đ nộp lệ phí bằng cách tiếp tục nhận các đơn hàng để nộp lệ phí về Công ty thì anh Đ yêu cầu nhận thưởng nên H1 tắt máy, chặn mọi liên lạc với anh Đ và chiếm đoạt số tiền 1.780.000 đồng.

Vụ thứ ba: Khoảng đầu tháng 12/2022, Hoàng Tuyết H gọi điện thoại cho ông Tạ Quang Đ (sinh năm 1969, địa chỉ: Số E, Đoàn G, Phường Kỳ Sơn, Quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh) giới thiệu là nhân viên Công ty mua sắm trực tuyến Công viên phần mềm Quang Trung và thông báo rằng là một trong bốn người may mắn được chọn ngẫu nhiên để tham gia chương trình trúng thưởng của Công ty, để nhận thưởng thì phải nhận 01 đơn hàng là 01 nệm massage thu về số tiền 1.780.000 đồng. Sau đó, H1 tiếp tục gọi điện thoại thông báo rằng ông Đ đã trúng thưởng 01 Ti vi Sam sung 60 inch trị giá 38.000.000 đồng và yêu cầu ông Đ nộp lệ phí bằng cách tiếp tục nhận các đơn hàng thì ông Đ yêu cầu nhận thưởng nên H1 tắt máy, chặn mọi liên lạc với ông Đ và chiếm đoạt số tiền 1.780.000 đồng.

Vụ thứ bốn: Khoảng cuối tháng 12/2022, Hoàng Tuyết H gọi điện thoại cho ông Phạm Văn H (sinh năm 1948, trú tại: 609/01 đường Cách Mạng Tháng Tám, phường 15, Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh) giới thiệu là nhân viên Công ty mua sắm trực tuyến Công viên phần mềm Quang Trung và thông báo rằng ông Hai là một trong bốn người may mắn được chọn ngẫu nhiên để tham gia chương trình trúng thưởng của Công ty, để nhận thưởng thì phải nhận 01 đơn hàng để chứng thực thì ông Hai đồng ý. H1 gửi cho ông Hai 01 đơn hàng là 01 máy đánh trứng, 01 máy đo huyết áp thu về số tiền 1.480.000 đồng. Sau đó, H1 tiếp tục gọi điện thông báo rằng ông Hai đã trúng thưởng 01 Ti vi Sam sung 60 inch trị giá 38.000.000 đồng và yêu cầu ông Hai nộp lệ phí bằng cách tiếp tục nhận các đơn hàng thì ông Hai yêu cầu nhận thưởng nên H1 tắt máy, chặn mọi liên lạc với ông Hai và chiếm đoạt số tiền 1.480.000 đồng.

Như vậy, Hoàng Tuyến H1 và Cao Văn H1 đã chiếm đoạt của 05 bị hại với tổng số tiền là 189.220.000 đồng đã tiêu sài cá nhân hết.

Tại cơ quan điều tra Hoàng Tuyết H, Cao Văn H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đối với Nguyễn Ngọc Thanh Hương, do không biết bị cáo Hoàng Tuyết H và Cao Văn H1 lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại và cũng không được chia tiền nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Vật chứng đã thu giữ:

+ 11 thùng hàng là thực phẩm chức năng: Thùng hàng 01 là 02 hộp đông trùng hạ tH1; thùng hàng 02 là 01 hộp Thông đỏ, 01 hộp cao nhung hươu; thùng hàng 3 là một hộp đông trùng hạ tH1, 01 hộp cao nhung hươu; thùng hàng 04 là 02 hộp cao nhung hươu; thùng hàng 5 là 02 hộp đông trùng hạ tH1; thùng hàng 6 là một hộp đông trùng hạ tH1, 01 hộp cao nhung huơu; thùng hàng 7 là 02 hộp đông trùng hạ tH1; thùng hàng 8 là 01 hộp đông trùng hạ tH1, 01 hộp cao nhung huơu; thùng hàng 9 là 02 hộp cao nhung hưởu; thùng hàng 10 là 02 hộp đông trùng hạ tH1; thùng hàng 11 là 02 hộp tinh dầu thông đỏ và 01 tủ lạnh nhãn hiệu Aqua AQR –T239FA (HB0; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung A03 do ông Nguyễn Đăng Bình giao nộp.

+ 01 hộp cao nhung huơu (đã sử dụng hết); 01 hộp đông trùng hạ tH1 (đã sử dụng được một nửa hộp, thiếu 01 típ) và 01 thùng hàng là máy đo huyết áp do anh Lê Xuân L giao nộp.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia số IMEI 1 là 357339288584405, IMEI 2 là 357339088584413 màu xanh, bên trong gắn 02 sim 0899023890, 0707297288; 01 điện thoại Xiaomi, màu xanh, số IMEI 1 là 861090058304030, IMEI 2 là 861090058304048 bên trong gắn 02 sim 0906709621, 0918356143; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 9S, màu xanh biển, IMEI 1 là 862418051393248, IMEI 2 là 862418051393255, sim thuê bao 0932.12437.

+ 01 thẻ ATM Ngân hàng TMCP Á Châu mang tên Hoàng Tuyết H, số tài khoản 28777347; 01 máy tính xách tay hiệu Asus; 01 máy tính nhãn hiệu HP; 06 điện thoại bàn nhãn hiệu Yealink, màu đen; 01 con dấu vuông có chữ “Trung tâm mua sắm trực tuyến – Công viên phân mềm Quang Trung – Đường Tô Ký, P. Tân Chánh Hiệp, Q.12, TP.HCM”; 01 bàn phím máy tính Eblue màu đen; 01 chuột máy tính Bosston; 02 tập hóa đơn chưa qua sử dụng; 03 gối mát – xa hiệu Car&Home; 200 thẻ cào, khi cào đều có nội dung “ Bạn trúng 01 Tivi Sam sung”.

Tại bản cáo trạng số: 40/CT- VKS(ĐM), ngày 29/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đã truy tố Hoàng Tuyết H, Cao Văn H1 ra trước tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông để xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Tuyết H, Cao Văn H1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil truy tố các bị cáo về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự là đúng, không oan.

Kết quả tranh tụng tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Hoàng Tuyết H, Cao Văn H1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Tuyết H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Cao Văn H1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Cao Văn H1 và gia đình bị cáo Hoàng Tuyết H đã bồi thường cho ông Nguyễn Đăng Bình 175.500.000 đồng và bồi thường cho ông Lê Xuân L số tiền 9.000.000 đồng. Ông B và ông L không yêu cầu các bị cáo phải tiếp tục bồi thường.

Ông Phạm Văn H, ông Tạ Quang Đ và anh Hoàng Văn Đ không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy 11 thùng hàng là thực phẩm chức năng (gồm thùng hàng 01 là 02 hộp đông trùng hạ tH1; thùng hàng 02 là 01 hộp Thông đỏ, 01 hộp cao nhung hươu; thùng hàng 3 là một hộp đông trùng hạ tH1, 01 hộp cao nhung hươu; thùng hàng 04 là 02 hộp cao nhung hươu; thùng hàng 5 là 02 hộp đông trùng hạ tH1; thùng hàng 6 là một hộp đông trùng hạ tH1, 01 hộp cao nhung huơu; thùng hàng 7 là 02 hộp đông trùng hạ tH1; thùng hàng 8 là 01 hộp đông trùng hạ tH1, 01 hộp cao nhung huơu; thùng hàng 9 là 02 hộp cao nhung hươu; thùng hàng 10 là 02 hộp đông trùng hạ tH1; thùng hàng 11 là 02 hộp tinh dầu thông đỏ, 01 hộp cao nhung hươu (đã sử dụng hết); 01 hộp đông trùng hạ tH1 (đã sử dụng một nửa hộp, thiếu 01 típ); các sim số 0899023890, 0707297288, 0906709621, 0918356143, 093212437; 01 con dấu vuông có chữ “Trung tâm mua sắm trực tuyến – Công viên phân mềm Quang Trung – Đường Tô Ký, P. Tân Chánh Hiệp, Q.12, TP.HCM”; 02 tập hóa đơn chưa qua sử dụng; 200 thẻ cào, khi cào đều có nội dung “ Bạn trúng 01 Tivi Sam sung” là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội do không còn giá trị sử dụng.

+ Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước 01 tủ lạnh nhãn hiệu Aqua AQR – T239FA (HB0; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung A03; 01 thùng hàng là máy đo huyết áp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia số IMEI 1 là 357339288584405, IMEI 2 là 357339088584413 màu xanh; 01 điện thoại Xiaomi, màu xanh, số IMEI 1 là 861090058304030, IMEI 2 là 861090058304048; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 9S, màu xanh biển, IMEI 1 là 862418051393248, IMEI 2 là 862418051393255; 01 máy tính xách tay hiệu Asus; 01 máy tính nhãn hiệu HP; 06 điện thoại bàn nhãn hiệu Yealink, màu đen; 01 bàn phím máy tính Eblue màu đen; 01 chuột máy tính Bosston; 03 gối mát – xa hiệu Car&Home là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

+ Trả lại 01 thẻ ATM Ngân hàng TMCP Á Châu mang tên Hoàng Tuyết H, số tài khoản 28777347 cho bị cáo Hoàng Tuyết H.

+ Truy thu, nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 5.040.000 đồng do các bị cáo phạm tội mà có.

Tại phiên tòa các bị cáo không bào chữa, không tranh luận về hành vi phạm tội của mình mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị hại ông Nguyễn Đăng Bình xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Mil, Điều tra viên, quyết định tố tụng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có mặt không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong khoảng thời gian từ ngày 05/10/2022 đến ngày 27/12/2022, để chiếm đoạt tiền của khách hàng, Hoàng Tuyết H và Cao Văn H1 đã dùng thủ đoạn gian dối bằng cách giả thông báo trúng thưởng, yêu cầu khách hàng nhận các đơn hàng, cam kết thu lại các đơn hàng nhưng không thực hiện việc trao thưởng và thu lại các đơn hàng. Với thủ đoạn gian dối như trên, Hoàng Tuyết H và Cao Văn H1 đã liên tục thực hiện 05 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 05 bị hại, với tổng số tiền chiếm đoạt là 189.220.000 đồng, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Từ ngày 05/10/2022 đến ngày 27/12/2022, Hoàng Tuyết H và Cao Văn H1 giả thông báo trúng thưởng và yêu cầu ông Nguyễn Đăng Bình nhận 11 đơn hàng rồi chiếm đoạt số tiền 175.500.000 đồng.

Vụ thứ hai: Vào khoảng đầu tháng 10/2022, Hoàng Tuyết H và Cao Văn H1 giả thông báo trúng thưởng và yêu cầu ông Lê Xuân L nhận 03 đơn hàng rồi chiếm đoạt số tiền 8.680.000 đồng.

Vụ thứ ba: Vào khoảng đầu tháng 10/2022, Hoàng Tuyết H và Cao Văn H1 giả thông báo trúng thưởng và yêu cầu anh Hoàng Văn Đ nhận 01 đơn hàng rồi chiếm đoạt số tiền 1.780.000 đồng.

Vụ thứ bốn: Vào khoảng đầu tháng 10/2022, Hoàng Tuyết H và Cao Văn H1 giả thông báo trúng thưởng và yêu cầu ông Tạ Quang Đ nhận 01 đơn hàng rồi chiếm đoạt số tiền 1.780.000 đồng.

Vụ thứ năm: Vào khoảng đầu tháng 10/2022, Hoàng Tuyết H và Cao Văn H1 giả thông báo trúng thưởng và yêu cầu ông Phạm Văn H nhận 01 đơn hàng rồi chiếm đoạt số tiền 1.480.000 đồng.

Tổng số tiền các bị cáo Hoàng Tuyết H và Cao Văn H1 chiếm đoạt được là 189.220.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định: Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

...

c) chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

...”

Xét hành vi của các bị cáo: HĐXX xét thấy các bị cáo nhận thức rõ bản thân không có khả năng trao thưởng và thu lại các đơn hàng như đã thông báo nhưng vẫn cố tình đưa ra thông báo trúng thưởng giả để lừa dối các bị hại, làm cho các bị hại tin tưởng mình trúng thưởng và nhận các đơn hàng do H, H1 gửi về để tích điểm nhận thưởng. Để chuẩn bị cho việc lừa đảo H và H1 đã bàn bạc và lên kế hoạch rất cụ thể: Mua 01 máy tính xách tay hiệu Asus, 01 máy in hiệu HP để soạn tH1 kịch bản với tiêu đề “ CHƯƠNG TRÌNH 4 PHẦN QUÀ” với nội dung đưa ra những thông tin trúng thưởng không có thật, phương pháp thuyết phục, cách nói chuyện trong các tình huống với từng người khác nhau để tạo niềm tin cho khách hàng cả hai cùng đặt hàng trên app Shoppee (các mặt hàng là đồ gia dụng và thực phẩm chức năng) phục vụ cho việc “gửi hàng – tích điểm – nhận quà”. Để có phương tiện liên lạc với khách hàng, H1 mua 04 số điện thoại 0906709621, 0899023890, 0707297288, 0918356143 (đều là sim rác không chính chủ) và 02 điện thoại di động hiệu Xiaomi, Nokia. Đồng thời, H1 ký hợp đồng vận chuyển HBT4922/VTPost với Tổng công ty cổ phần bưu chính Viettel về việc chuyển hàng cho khách và nhận tiền hàng vào tài khoản số: 28777347 Ngân hàng ACB của H1, còn H1 sử dụng thông tin Căn cước công dân của mình ký hợp đồng với Tổng công ty PFT đăng ký 02 số điện thoại cố định là 02873016689, 02873013336 và mua 06 điện thoại bàn về tự lắp đặt. Sau đó, H đặt khắc 01 con dấu vuông có chữ “Trung tâm mua sắm trực tuyến – Công viên phần mềm Quang Trung – Đường Tô Ký, P. Tân Chánh Hiệp, Q.12, TP. HCM” để đóng lên các thùng hàng trước khi gửi để tạo thêm niềm tin cho khách hàng. Với thủ đoạn gian dối như trên, Hoàng Tuyết H và Cao Văn H1 đã liên tục thực hiện 05 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 05 bị hại, với tổng số tiền chiếm đoạt là 189.220.000 đồng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bản thân các bị cáo H toàn nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử, xét thấy cần xử phạt các bị cáo hình phạt tương xứng để giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống; đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Về vai trò đồng phạm của các bị cáo: Cả 2 bị cáo cùng tham gia thực hiện tội phạm với tính chất đồng phạm giản đơn, đều đóng vai trò là người chủ mưu, thực hành, sau khi chiếm đoạt tài sản cùng nhau chia tiền để tiêu xài. Tuy nhiên Hội đồng xét xử (HĐXX) xét thấy cần phải phân hóa vai trò tương ứng với tính chất, mục đích, hành vi của từng bị cáo để quyết định hình phạt đối với từng bị cáo cho chính xác:

Đối với bị cáo Cao Văn H1 là người chủ mưu, chủ động rủ Hoàng Tuyết H giả danh mở công ty tại địa chỉ số 149/47/20 Lũy Bán Bích, phường Tân Thới Hòa, quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh từ đầu năm 2022 nhằm mục đích lừa đảo, bị cáo là người soạn kịch bản với tiêu đề “CHƯƠNG TRÌNH 4 PHẦN QUÀ” với nội dung đưa ra những thông tin trúng thưởng không có thật, phương pháp thuyết phục, cách nói chuyện trong những tình huống với từng người khác nhau để tạo niềm tin cho khách hàng, lên các trang mạng để mua về thông tin khách hàng (bao gồm các số điện thoại, họ tên, sản phẩm đã từng mua trên mạng của khách hàng) từ các đối tượng không rõ lai lịch trên các hội nhóm “Mua bán Data” in ra giấy A4 đưa cho H1, bị cáo còn đặt khắc 01 con dấu vuông có chữ “Trung tâm mua sắm trực tuyến – Công viên phần mềm Quang Trung – Đường Tô Ký, P. Tân Chánh Hiệp, Q.12, TP. HCM” để đóng lên các thùng hàng trước khi gửi để tạo thêm niềm tin cho khách hàng và là người đóng các đơn hàng để gửi về cho khách hàng.

Đối với bị cáo Hoàng Tuyết H: Với vai trò đồng phạm, khi nghe H rủ rê thì tiếp nhận và thực hành tích cực, trực tiếp giữ vai trò chính gọi điện thoại, liên lạc với khách hàng để thông báo trúng thưởng, bị cáo đã gọi lừa rất nhiều đối tượng, trong đó với người bị hại ông B bị cáo gọi rất nhiều lần và đã gửi cho ông B nhiều sản phẩm để tích điểm đổi quà, bị cáo còn nhờ Hương nói hộ là người của Ngân hàng để tăng thêm niềm tin cho ông B nhận quà tích điểm để nhận thưởng, bên cạnh đó bị cáo sử dụng thông tin Căn cước công dân của mình ký hợp đồng với Tổng công ty PFT đăng ký 02 số điện thoại cố định là 02873016689, 02873013336 và mua 06 điện thoại bàn về tự lắp đặt và là người trực tiếp đi ký hợp đồng vận chuyển HBT4922/VTPost với Tổng công ty cổ phần bưu chính Viettel về việc chuyển hàng cho khách và nhận tiền hàng vào tài khoản số: 28777347 Ngân hàng ACB của mình, mọi việc ăn chia đối với bị cáo H bị cáo là người tự tính rồi chia cho bị cáo H. Vì vậy, HĐXX xét thấy mức hình phạt của bị cáo phải cao hơn so với bị cáo H.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo Cao Văn H1 có nhân thân xấu và thuộc trường hợp phạm tội hai lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Bị cáo Hoàng Tuyết H thuộc trường hợp phạm tội hai lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Cao Văn H1, Hoàng Tuyết H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quá trình điều tra đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho các bị hại Nguyễn Đăng Bình và Lê Xuân L được anh Bình, anh Linh viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt đây là tình tiết được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt: HĐXX, xét thấy bản thân các bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần phải cách ly các bị cáo H, H1 ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định với mức án nghiêm khắc để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 triệu đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, qua xác minh và tại phiên tòa các bị cáo đều khai là người không có tài sản, công việc tạo thu nhập ổn định, không có điều kiện để thi hành hình phạt bổ sung nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, cả hai bị cáo H và H1 đã tác động người nhà bồi thường thiệt hại cho hai người bị hại là ông Nguyễn Đăng Bình và Lê Xuân L được ông B, ông L viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt, cũng như không yêu cầu gì thêm. Đối với người bị hại là ông Phạm Văn H, ông Tạ Quang Đ, ông Hoàng Văn Đ không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên không đề cập giải quyết.

Buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền do phạm tội mà có, số tiền truy nộp: Bị cáo H: 2.520.000 đồng, bị cáo H1 2.520.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 11 thùng hàng là thực phẩm chức năng(gồm thùng hàng 01 là 02 hộp đông trùng hạ tH1; thùng hàng 02 là 01 hộp Thông đỏ, 01 hộp cao nhung hươu; thùng hàng 3 là một hộp đông trùng hạ tH1, 01 hộp cao nhung hươu; thùng hàng 04 là 02 hộp cao nhung hươu; thùng hàng 5 là 02 hộp đông trùng hạ tH1; thùng hàng 6 là một hộp đông trùng hạ tH1, 01 hộp cao nhung huơu; thùng hàng 7 là 02 hộp đông trùng hạ tH1; thùng hàng 8 là 01 hộp đông trùng hạ tH1, 01 hộp cao nhung huơu; thùng hàng 9 là 02 hộp cao nhung hưởu; thùng hàng 10 là 02 hộp đông trùng hạ tH1; thùng hàng 11 là 02 hộp tinh dầu thông đỏ, 01 hộp cao nhung hươu (đã sử dụng hết); 01 hộp đông trùng hạ tH1 (đã sử dụng một nửa hộp, thiếu 01 típ); các sim số 0899023890, 0707297288, 0906709621, 0918356143, 093212437; 01 con dấu vuông có chữ “Trung tâm mua sắm trực tuyến – Công viên phân mềm Quang Trung – Đường Tô Ký, P. Tân Chánh Hiệp, Q.12, TP.HCM”; 02 tập hóa đơn chưa qua sử dụng; 200 thẻ cào, khi cào đều có nội dung “ Bạn trúng 01 Tivi Sam sung”, 01 thẻ ATM Ngân hàng TMCP Á Châu mang tên Hoàng Tuyết H, số tài khoản 28777347 là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội do không còn giá trị sử dụng.

Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước 01 tủ lạnh nhãn hiệu Aqua AQR – T239FA(HB0; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung A03; 01 thùng hàng là máy đo huyết áp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia số IMEI 1 là 357339288584405, IMEI 2 là 357339088584413 màu xanh;01 điện thoại Xiaomi, màu xanh, số IMEI 1 là 861090058304030, IMEI 2 là 861090058304048; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 9S, màu xanh biển, IMEI 1 là 862418051393248, IMEI 2 là 862418051393255; 01 máy tính xách tay hiệu Asus; 01 máy tính nhãn hiệu HP; 06 điện thoại bàn nhãn hiệu Yealink, màu đen; 01 bàn phím máy tính Eblue màu đen; 01 chuột máy tính Bosston; 03 gối mát – xa hiệu Car&Home là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Đối với số tiền các bị cáo có được từ việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản số tiền 5.040.000 đồng thu lợi bất chính nên cần truy thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với Nguyễn Ngọc Thanh Hương, do không biết các bị cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Cao Văn H1, Hoàng Tuyết H phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Hoàng Tuyết H.

Xử phạt Hoàng Tuyết H 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/01/2023.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Cao Văn H1.

Xử phạt Cao Văn H1 02 (hai) năm 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 587 và 589 của Bộ luật Dân sự;

Chấp nhận bị cáo Cao Văn H1, Hoàng Tuyết H đã bồi thường số tiền 175.500.000 đồng cho ông Nguyễn Đăng Bình và 9.000.000 đồng cho ông Lê Xuân L.

4. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 11 thùng hàng là thực phẩm chức năng(gồm thùng hàng 01 là 02 hộp đông trùng hạ tH1; thùng hàng 02 là 01 hộp Thông đỏ, 01 hộp cao nhung hươu; thùng hàng 3 là một hộp đông trùng hạ tH1, 01 hộp cao nhung hươu; thùng hàng 04 là 02 hộp cao nhung hươu; thùng hàng 5 là 02 hộp đông trùng hạ tH1; thùng hàng 6 là một hộp đông trùng hạ tH1, 01 hộp cao nhung huơu; thùng hàng 7 là 02 hộp đông trùng hạ tH1; thùng hàng 8 là 01 hộp đông trùng hạ tH1, 01 hộp cao nhung huơu; thùng hàng 9 là 02 hộp cao nhung hưởu; thùng hàng 10 là 02 hộp đông trùng hạ tH1; thùng hàng 11 là 02 hộp tinh dầu thông đỏ, 01 hộp cao nhung hươu (đã sử dụng hết); 01 hộp đông trùng hạ tH1 (đã sử dụng một nửa hộp, thiếu 01 típ); các sim số 0899023890, 0707297288, 0906709621, 0918356143, 093212437; 01 con dấu vuông có chữ “Trung tâm mua sắm trực tuyến – Công viên phân mềm Quang Trung – Đường Tô Ký, P. Tân Chánh Hiệp, Q.12, TP.HCM”; 02 tập hóa đơn chưa qua sử dụng; 200 thẻ cào, khi cào đều có nội dung “ Bạn trúng 01 Tivi Sam sung”, 01 thẻ ATM Ngân hàng TMCP Á Châu mang tên Hoàng Tuyết H, số tài khoản 28777347 tất cả là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội do không còn giá trị sử dụng.

Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước 01 tủ lạnh nhãn hiệu Aqua AQR – T239FA(HB0; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung A03; 01 thùng hàng là máy đo huyết áp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia số IMEI 1 là 357339288584405, IMEI 2 là 357339088584413 màu xanh;01 điện thoại Xiaomi, màu xanh, số IMEI 1 là 861090058304030, IMEI 2 là 861090058304048; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 9S, màu xanh biển, IMEI 1 là 862418051393248, IMEI 2 là 862418051393255; 01 máy tính xách tay hiệu Asus; 01 máy tính nhãn hiệu HP; 06 điện thoại bàn nhãn hiệu Yealink, màu đen; 01 bàn phím máy tính Eblue màu đen; 01 chuột máy tính Bosston; 03 gối mát – xa hiệu Car&Home là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

( Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đăk Mil và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Mil ngày 12/7/2023.)

Buộc bị cáo Hoàng Tuyết H phải truy nộp sung công quỹ Nhà nước số tiền do phạm tội mà có là 2.520.000 đồng.

Buộc bị cáo Cao Văn H1 phải truy nộp sung công quỹ Nhà nước số tiền do phạm tội mà có là 2.520.000 đồng.

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 về phí, của thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Cao Văn H1, Hoàng Tuyết H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ.

7. Về hướng dẫn Thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ