- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Kim P - Kim Thanh Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lý Thị P đối với ông Kim Thanh Đ.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2023/HNGĐ-ST Ngày 08-8-2023 V/v ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ca Kiều Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Nhạn
2. Bà Cao Thị Mỹ Phượng
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Luân– Thư ký Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 220/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2023/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 49/2023/QĐ-ST ngày 20 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lý Thị P, sinh năm 1988
Địa chỉ: Khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
Bị đơn: Ông Kim Thanh Đ, sinh năm 1986
Địa chỉ: Khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lý Thị P trình bày: Bà Lý Thị P và ông Kim Thanh Đ tự nguyện chung sống từ năm 2004, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường H cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 10/4/2007. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do ông Đ thường xuyên nhậu nhẹt kiếm chuyện cự cải hành hung bà Phước, ông Đ không chung thủy, ăn nhậu cặp kè với người phụ nữ khác. Ông Đ không quan tâm chăm sóc gia đình, không chịu nổi thói hư tật xấu của ông Đ nên bà Phước đã ra sống riêng khoảng 03 năm nay, trong thời gian sống riêng ông Đ đi nhậu say cũng hay kiếm bà Phước để cự cải, chửi bới. Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn tiếp tục chung sống nên bà Phước xin ly hôn với ông Đ.
Bà P1 và ông Đ chung sống có 02 con chung tên Kim Ngọc D, sinh ngày 02/08/2006 và Kim Thanh L, sinh ngày 12/10/2008 từ trước đến nay các con đều do bà Phước chăm sóc và khi bà Phước ra sống riêng thì các con cũng theo sống cùng bà Phước. Khi ly hôn bà Phước yêu cầu trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Bà phước và ông Đ chung sống không có tài sản chung và cũng không có nợ chung nên không yêu cầu quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Kim Thanh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, không đến Tòa án làm việc, không có lời khai trình bày ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm này thấy rằng những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lý Thị P, cho bà Phước ly hôn với ông Đ. Giao 02 con chung tên Kim Ngọc D, sinh ngày 02/08/2006 và Kim Thanh L, sinh ngày 12/10/2008 cho bà Phước tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông Đ1. Về tài tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của đương sự, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn bà Lý Thị P và bị đơn ông Kim Thanh Đ. Bị đơn và nguyên đơn đều đang cư trú tại Khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu nên đây là vụ án dân sự về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã G theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập tham gia phiên tòa đối với ông Kim Thanh Đ, nhưng ông Đ đều vắng mặt không rõ lý do. Ông Đ đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, còn bà Phước thì có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bà Phước và ông Đ theo quy định pháp luật.
Về hôn nhân: Năm 2004, bà Lý Thị P và ông Kim Thanh Đ tự nguyện chung sống vợ chồng, ông bà có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn H (nay là phường H), thị xã G, tỉnh Bạc Liêu cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 10/4/2007, nên hôn nhân của bà Phước và ông Đ là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Bà Phước xác định vợ chồng chung sống xảy ra mâu thuẫn do ông Đ không chung thủy, không quan tâm chăm sóc gia đình, thường xuyên nhậu nhẹt và hành hung bà, do mâu thuẫn ngày càng nhiều nên bà Phước đã dẫn 02 con ra sống riêng khoảng 03 năm nay. Mặc khác, theo Biên bản làm việc ngày 13/6/2023, chính quyền địa phương xác định vợ chồng ông Đ và bà Phước chung sống có mâu thuẫn nên bà Phước đã dẫn theo 02 con đi nơi khác sinh sống khoảng 03 năm nay, ông Đ hiện nay đang sống tại địa phương. Như vậy, sự việc bà Phước và ông Đ chung sống xảy ra mâu thuẫn và đã không còn chung là đúng sự thật, phù hợp với lời khai của bà Phước cũng như tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập. Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà Phước và ông Đ đã mâu thuẫn trầm trọng không có khả năng hàn gắn, vợ chồng không còn chung sống, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình cho bà Phước được ly hôn với ông Đ là phù hợp.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn bà Lý Thị P xác định bà và ông Kim Thanh Đ chung sống có 02 con chung tên Kim Ngọc D, sinh ngày 02/08/2006 và Kim Thanh L, sinh ngày 12/10/2008, các cháu đang sống cùng bà Phước và bà Phước yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con, không yêu cầu cấp dưỡng, còn bị đơn ông Đ không có ý kiến trình bày đối với con chung. Hội đồng xét xử căn cứ vào giấy khai sinh bà Phước cung cấp và thông tin được chính quyền địa phương xác nhận thông qua Biên bản làm ngày 13/6/2023, có cơ sở xác định bà Phước và ông Đ có 02 con chung và hiện nay do bà Phước đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Đồng thời, tại Biên bản lấy lời khai ngày 22/5/2023, cháu D và cháu L đều có nguyện vọng muốn sống chung với bà Phước. Do đó, để đảm bảo cuộc sống của cháu D và cháu L được ổn định và theo nguyện vọng của các cháu thì cần giao các cháu cho bà Phước tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Phước không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con nên tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông Đ. Về tài sản chung và nợ chung, bà Phước xác định không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết và Tòa án cũng không nhận được ý kiến, yêu cầu của ông Đ về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí: Bà Lý Thị P là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lý Thị P đối với ông Kim Thanh Đ. Cho bà Lý Thị P được ly hôn ông Kim Thanh Đ.
2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Kim Ngọc D, sinh ngày 02/08/2006 và Kim Thanh L, sinh ngày 12/10/2008 cho bà Lý Thị P trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông Kim Thanh Đ.
Ông Kim Thanh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lý Thị P xác định không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết và ông Kim Thanh Đ không có ý kiến, yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lý Thị P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Phước đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0014670 ngày 04/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã G, nay được chuyển thu án phí.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND Tx. G; - Chi cục THADS Tx. G; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; Tòa. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ca Kiều Nguyệt |