vanban.org

Bản án 68/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Cẩm L ly hôn với ông Lâm Trung H.

Về con chung: Giao Lâm Xin H (giới tính nam), sinh ngày 04/11/2011 cho bà Nguyễn Thị Cẩm L chịu trách nhiệm tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi Lâm Xin H đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động sinh sống. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Cẩm L về việc không yêu cầu ông Lâm Trung H cấp dưỡ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Cẩm L ly hôn với ông Lâm Trung H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31 - 3 - 2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phước.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Hoài Yên.

2. Ông Trần Hoàng Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Võ Việt Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2023/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 02 năm 2023, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm L, sinh năm 1975 (Nguyễn Cẩm Lụa, sinh năm 1980) (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện P, tỉnh C.

- Bị đơn: Ông Lâm Trung H, sinh năm 1975 (Lâm Trung H, sinh năm 1979) (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện P, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01/02/2023 cùng các văn bản khác kèm theo, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Cẩm L trình bày:

Về hôn nhân, vào năm 1999 bà (Nguyễn Thị Cẩm L) và ông Lâm Trung H chung sống với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân P, huyện C (nay là huyện P), tỉnh Cà Mau ngày 06/3/2000. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc đến tháng 5/2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường hay tranh cải và đã không còn sống chung cho đến nay. Nhận thấy hôn nhân không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên bà yêu cầu ly hôn với ông Lâm Trung H. Về con chung có 02 người tên là Lâm Xin P (giới tính nam), sinh ngày 16/01/2000 và Lâm Xin H (giới tính nam), sinh ngày 04/11/2011. Hiện Lâm Xin P đã trưởng thành và có khả năng tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu giải quyết. Đối với Lâm Xin H hiện đang do bà nuôi dưỡng, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Lâm Trung H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Lâm Trung H đã được triệp tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, đồng thời không cung cấp lời khai chứng cứ.

Đại diện chính quyền địa phương xã T, huyện P, tỉnh C xác định: Bà Nguyễn Thị Cẩm L và ông Lâm Trung H không có yêu cầu hòa giải nên chính quyền địa phương không xác định được tình trạng mâu thuẫn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Cẩm L ly hôn với ông Lâm Trung H. Giao con chung tên là Lâm Xin H (giới tính nam), sinh ngày 04/11/2011 cho bà Nguyễn Thị Cẩm L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Cẩm L về việc không yêu cầu ông Lâm Trung H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có, đồng thời không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Cẩm L yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Lâm Trung H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Nguyễn Thị Cẩm L xin vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt. Ông Lâm Trung H vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt.

[2]. Xét về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Cẩm L và ông Lâm Trung H chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1999, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Việc kết hôn phù hợp với quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Cẩm L và ông Lâm Trung H được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường hay tranh cải mà không thể tự hòa giải, hàn gắn. Nhận thấy hôn nhân không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên bà Nguyễn Thị Cẩm L yêu cầu ly hôn với ông Lâm Trung H. Ông Lâm Trung H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, đồng thời không cung cấp lời khai chứng cứ cho Tòa án xem xét, cho thấy ông Lâm Trung H không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Cẩm L và ông Lâm Trung H đã và đang trầm trọng, bà Nguyễn Thị Cẩm L cương quyết yêu cầu ly hôn. Do đó, việc bà Nguyễn Thị Cẩm L yêu cầu ly hôn với ông Lâm Trung H là có căn cứ để chấp nhận.

[3]. Về con chung: Có 02 người tên là Lâm Xin P (giới tính nam), sinh ngày 16/01/2000 và Lâm Xin H (giới tính nam), sinh ngày 04/11/2011. Hiện Lâm Xin P đã thành niên và có khả năng tự lao động nuôi sống bản thân nên không đặt ra xem xét. Riêng Lâm Xin H hiện đang do bà Nguyễn Thị Cẩm L trực tiếp nuôi dưỡng, bà Nguyễn Thị Cẩm L yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông Lâm Trung H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy con chung đang do bà Nguyễn Thị Cẩm L đang trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời Lâm Xin H có nguyện vọng được sống cùng với bà Nguyễn Thị Cẩm L nên việc tiếp tục giao con chung cho bà Nguyễn Thị Cẩm L nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Cẩm L về việc không yêu cầu ông Lâm Trung H cấp dưỡng nuôi con.

[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Cẩm L xác định không có, đồng thời không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[5]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Nguyễn Thị Cẩm L phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các điều 9, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 cùng của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Cẩm L ly hôn với ông Lâm Trung H.

2. Về con chung: Giao Lâm Xin H (giới tính nam), sinh ngày 04/11/2011 cho bà Nguyễn Thị Cẩm L chịu trách nhiệm tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi Lâm Xin H đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động sinh sống. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Cẩm L về việc không yêu cầu ông Lâm Trung H cấp dưỡng nuôi con.

Ông Lâm Trung H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Cẩm L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Bà Nguyễn Thị Cẩm L đã nộp xong tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018572, ngày 03 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, nay chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ