- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị Ngọc H - Võ Văn Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị Ngọc H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2023/HNGĐ - ST. Ngày: 13 - 9 - 2023. "V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Rực.
Ông Thạch Hoàng Tha.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Gia Mẫn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 102/2023/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2023 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Dương Thị Ngọc H, sinh năm 1985; địa chỉ: Số X, ấp T, xã M, huyện V, tỉnh T (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1990; địa chỉ: Số N, ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện lập ngày 25/4/2023 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Dương Thị Ngọc H trình bày: Vào năm 2010, bà Dương Thị Ngọc H và ông Võ Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng, giấy chứng nhận kết hôn số 05, quyển số 01, ngày 08/01/2010. Sau khi kết hôn ông, bà chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, đời sống vợ chồng không hạnh phúc. Do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên ông, bà sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Trong thời gian chung sống ông, bà có 01 người con chung tên Võ Dương Thúy H, sinh ngày 22/8/2017. Về tài sản chung ông, bà không có tài sản chung. Quá trình chung sống ông, bà không có nợ chung.
Tại phiên tòa, bà Dương Thị Ngọc H yêu cầu ly hôn với ông Võ Văn Đ; về con chung: Bà Dương Thị Ngọc H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Võ Dương Thúy H, sinh ngày 22/8/2017 đến khi thành niên. Không yêu cầu ông Võ Văn Đ cấp dưỡng cho con chung; về tài sản chung và nợ chung không có nên bà H không yêu cầu gì.
- Đối với bị đơn ông Võ Văn Đ: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông Đ, nhưng ông Đ không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Đ 02 lần để tham gia tố tụng tại phiên hòa giải nhưng ông Đ vẫn vắng mặt nên Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được. Bị đơn ông Võ Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
- Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đối với bị đơn ông Võ Văn Đ chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa xét thấy tình trạng của vợ chồng bà Dương Thị Ngọc H và ông Võ Văn Đ đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H; giao cháu Võ Dương Thúy Hằng, sinh ngày 22/8/2017 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên, ông Đ không cấp dưỡng cho con chung; về tài sản chung và nợ chung không có nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 02/6/2023, nguyên đơn bà Dương Thị Ngọc H trình bày: Bà Dương Thị Ngọc H và ông Võ Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng, giấy chứng nhận kết hôn số 05, quyển số 01, ngày 08/01/2010. Bà H yêu cầu xin được ly hôn với ông Võ Văn Đ và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên và yêu cầu ông Đ cấp dưỡng cho con chung theo quy định pháp luật đến khi thành niên, về tài sản chung và nợ chung không có nên yêu cầu gì. Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Trong vụ án, bị đơn ông Võ Văn Đ hiện đang cư trú tại ấp Phụng Tường 2, xã Song P, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Võ Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Đ.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Dương Thị Ngọc H thay đổi yêu cầu khởi kiện về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Dương Thị Ngọc H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Võ Dương Thúy H, sinh ngày 22/8/2017 đến khi thành niên. Không yêu cầu ông Võ Văn Đ cấp dưỡng cho con chung. Căn cứ vào khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xét thấy việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, bà Dương Thị Ngọc H và ông Võ Văn Đ tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Song Phụng, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng, giấy chứng nhận kết hôn số 05, quyển số 01, ngày 08/01/2010 nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông Đ là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 85 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, bà H có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Xét lý do yêu cầu ly hôn của bà H, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong thời gian chung ông bà luôn xảy ra bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên vợ chồng thường cải vã qua lại, mâu thuẩn kéo dài, ông Đ có người phụ nữ bên ngoài không quan tâm chăm sóc vợ con từ đó cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, bất hòa. Ông Đ và bà H đã sống ly thân với nhau từ năm 2019 cho đến nay và sau khi sống ly thân thì ông Đ và bà H không gặp nhau và không hàn gắn tình cảm. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để động viên vợ chồng ông Đ và bà H đoàn tụ với nhau nhưng ông Đ vẫn vắng mặt và bà H vẫn kiên quyết ly hôn với ông Đ vì tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, tình trạng của vợ chồng ông Đ và bà H đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét yêu cầu xin ly hôn của bà H là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 89 và Điều 91 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông Đ.
Về con chung: Bà Dương Thị Ngọc H và ông Võ Văn Đ xác định trong thời gian chung sống, bà H và ông Đ có 01 người con chung là Võ Dương Thúy Hằng, sinh ngày 22/8/2017, hiện đang sống chung với bà H; bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên. Xét thấy, từ khi bà H và ông Đ không sống chung với nhau cho đến nay cháu Hằng do bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu Hằng, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải giao cháu Hằng cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 92 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Ngoài ra, căn cứ vào Điều 94 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Hội đồng xét xử dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông Võ Văn Đ mà không ai được cản trở.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà Dương Thị Ngọc H không yêu cầu cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Dương Thị Ngọc H xác định trong thời gian chung sống bà H và ông Võ Văn Đ không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bà Dương Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Võ Văn Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, khoản 1 Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 85, khoản 1 Điều 89, Điều 91, Điều 92 và Điều 94 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị Ngọc H.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Ngọc H được ly hôn với ông Võ Văn Đ.
1.2. Về con chung: Giao cháu Võ Dương Thúy H, sinh ngày 22/8/2017 cho bà Dương Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên; ông Võ Văn Đ không cấp dưỡng cho con chung. Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông Võ Văn Đ mà không ai được cản trở.
1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Dương Thị Ngọc H xác định trong thời gian chung sống bà H và ông Võ Văn Đ không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Dương Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010028 ngày 20/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng; như vậy, bà Dương Thị Ngọc H đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm. Ông Võ Văn Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Long Phú; - UBND xã Song Phụng; - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV&THA); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Ánh |