vanban.org

Bản án 68/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lầu Y N.

Về hôn nhân: Cho chị Lầu Y N được ly hôn với anh Già Bá N. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu cháu Già Xuân R, sinh ngày 17/3/2010 và cháu Lầu Bá M, sinh ngày 01/01/2015 cho chị Lầu Y N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ giữa chị Lầu Y N và anh Già Bá N (Ly hôn)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lầu Y N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KỲ SƠN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28 tháng 7 năm 2023
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Bà Vi Thị Khuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thái Đình Thanh;

2. Ông Trần Thanh Bình.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Và Bá Của - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2023/QĐST-DS ngày 03/7/2023, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Lầu Y N, sinh năm 1984.

Nơi cư trú: Bản M2, xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Già Bá N, sinh năm 1982.

Nơi cư trú: Bản P, xã Đ, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Lầu Y N vắng mặt, tuy nhiên theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Lầu Y N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Già Bá N có đăng ký kết hôn vào ngày 23/3/2005 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm về thủ tục và điều kiện kết hôn. Thời gian đầu khi mới lấy nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Già Bá N không quan tâm chăm sóc, không có trách nhiệm với gia đình, vợ chồng không có tiếng nói chung, không thể hòa hợp. Hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng không thể hòa giải được. Chị và anh Già Bá N đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Hiện chị Lầu Y N không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Già Bá N.

Về con chung: Chị Lầu Y N và anh Già Bá N có 02 con chung là cháu Già Xuân R, sinh ngày 17/3/2010 và cháu Lầu Bá M, sinh ngày 01/01/2015. Nay ly hôn, chị Lầu Y N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc hai con chung, không yêu cầu anh Già Bá N cấp dưỡng.

Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Chị Lầu Y N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa: Sau khi thụ lý đơn khởi kiện, thông báo thụ lý vụ án, qua xác minh anh Già Bá N thường xuyên vắng mặt tại địa phương, đi đâu và làm gì không ai biết, anh Già Bá N cũng không khai báo với chính quyền địa phương về việc thay đổi nơi cư trú, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã Đ và tại bản P, xã Đ, huyện K, tỉnh Nghệ An là nơi cư trú cuối cùng của bị đơn. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn anh Già Bá N vẫn vắng mặt, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định tại Điều 204, 207, 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, xác định quan hệ tranh chấp; Trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ, tống đạt đảm bảo quyền của đương sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự từ Điều 239 đến Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của Thư ký phiên tòa được thực hiện đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về hôn nhân: Cho chị Lầu Y N và anh Già Bá N được ly hôn;

Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Già Xuân R, sinh ngày 17/3/2010 và cháu Lầu Bá M, sinh ngày 01/01/2015 cho chị Lầu Y N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Già Bá N do chị Lầu Y N không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn chị Lầu Y N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chị Lầu Y N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Lầu Y N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Già Bá N có địa chỉ cư trú tại xã Đ, huyện K, tỉnh Nghệ An. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt các quyết định của Tòa án. Tại phiên tòa nguyên đơn chị Lầu Y N vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không chấp hành các quyết định của Tòa án, gây khó khăn cho công tác điều tra, thu thập chứng cứ. Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt cho đương sự hợp lệ nhiều lần nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, nguyên đơn là đúng quy định tại Điều 207 và Điều 227 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lầu Y N và anh Già Bá N tự nguyện kết hôn sau một thời gian tìm hiểu, kết hôn đúng điều kiện, nơi đăng ký kết hôn là tại UBND xã Đ, huyện K, tỉnh Nghệ An nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Thời gian sau thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Già Bá N không quan tâm, không có trách nhiệm với gia đình, quan hệ vợ chồng trở nên căng thẳng. Hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng không thể hòa giải được, chị Lầu Y N và anh Già Bá N đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Xét thấy, hôn nhân của chị Lầu Y N và anh Già Bá N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cho chị Lầu Y N được ly hôn với anh Già Bá N.

Về con chung: Chị Lầu Y N và anh Già Bá N có 02 con chung là cháu Già Xuân R, sinh ngày 17/3/2010 và cháu Lầu Bá M, sinh ngày 01/01/2015. Nay ly hôn, chị Lầu Y N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc hai con chung. Xét thấy, con chung có nguyện vọng ở với chị Lầu Y N, bên cạnh đó hiện nay anh Già Bá N thường xuyên vắng mặt tại địa phương, đi đâu và làm gì không ai biết, nên việc giao con chung cho chị Lầu Y N nuôi dưỡng, chăm sóc là đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con. Vì vậy, cần giao 02 con chung là cháu Già Xuân R, sinh ngày 17/3/2010 và cháu Lầu Bá M, sinh ngày 01/01/2015 cho chị Lầu Y N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) là phù hợp, đúng quy định, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con.

Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Do chị Lầu Y N không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng đối với anh Già Bá N. Trường hợp Chị Lầu Y N nuôi con không đảm bảo quyền, lợi ích của con mà anh Già Bá N có căn cứ chứng minh thì có quyền làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Trường hợp anh Già Bá N lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Lầu Y N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Già Bá N.

Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Nguyên đơn chị Lầu Y N không yêu cầu Hội đồng xét xử không xem xét.

Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn chị Lầu Y N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lầu Y N.

1. Về hôn nhân: Cho chị Lầu Y N được ly hôn với anh Già Bá N.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu cháu Già Xuân R, sinh ngày 17/3/2010 và cháu Lầu Bá M, sinh ngày 01/01/2015 cho chị Lầu Y N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Già Bá N do chị Lầu Y N không yêu cầu. Anh Già Bá N có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, thăm nom con chung không ai được cản trở. Trường hợp Chị Lầu Y N là người trực tiếp nuôi con chung không đảm bảo quyền, lợi ích của con mà anh Già Bá N có căn cứ chứng minh thì anh Già Bá N có quyền yêu cầu Tòa án xem xét, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Trường hợp anh Già Bá N lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì Chị Lầu Y N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Già Bá N.

3. Về án phí: Chị Lầu Y N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai thu số 0004323 ngày 06/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An (Chị Lầu Y N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm).

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Lầu Y N có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/7/2023). Bị đơn anh Già Bá N vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ