- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H "ly hôn" Nguyễn Văn H1"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đối với bị đơn ông Lê Văn H1 .
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C Đ TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:68/2023/HNGĐ-ST Ngày: 13-7-2023 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C Đ- TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thám.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Chí Thanh.
2. Ông Nguyễn Minh Tân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C Đ, tỉnh Long An.
Ngày 13 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C Đ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 182/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; Địa chỉ: ấp 2, xã PT, huyện C Đ, tỉnh Long An (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Văn H1, sinh năm 1974; Địa chỉ: ấp 2, xã PT, huyện C Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 07 tháng 4 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà và ông Lê Văn H1 tổ chức hôn lễ cưới vào năm 1999 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PT, huyện C Đ ngày 19/10/2010, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 86, quyển số 01/2010. Vợ chồng có hai con chung là chị Lê Thị Cẩm V, sinh năm 2000, đã thành niên và đầy đủ năng lực hành vi dân sự và cháu Lê Thị Thuý V1, sinh ngày 05/9/2010. Cuộc sống vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên đã ly thân từ tháng 06 năm 2021 đến nay. Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Văn H1. Về con chung, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung chưa thành niên là cháu Lê Thị Thuý V1, sinh ngày 05/9/2010, bà H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung không có, không yêu cầu Toà án giải quyết; về nợ chung bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lê Văn H1 vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Bà Nguyễn Thị H và ông Lê Văn H1 có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân xã PT, huyện C Đ cấp giấy chứng nhận kết hôn số 86, quyển số 01/2010 ngày 19/10/2010 nên hôn nhân là hợp pháp.
[1.2] Ông Lê Văn H1 là bị đơn, hiện nay có hộ khẩu thường trú tại xã PT, huyện C Đ nên khi bà H có đơn khởi kiện ly hôn, Tòa án nhân dân huyện C Đ, tỉnh Long An căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
Bị đơn ông Lê Văn H1 được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 207, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H:
Về quan hệ hôn nhân: Bà H nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông H1, theo bà H nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bà bất đồng về tư tưởng, lối sống, vợ chồng đã ly thân từ tháng 06 năm 2021 đến nay không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Đồng thời, ông H1 vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến trình bày, cho thấy ông H1 không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà H. Hội đồng xét xử xét thấy, mục đích hôn nhân giữa bà H và ông H1 không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị H là có căn cứ được chấp nhận.
Về con chung: Bà H và ông H1 có hai con chung là chị Lê Thị Cẩm V, sinh năm 2000, đã thành niên và đầy đủ năng lực hành vi dân sự và cháu Lê Thị Thuý V1, sinh ngày 05/9/2010. Bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung chưa thành niên là cháu Lê Thị Thuý V1, cháu V1 cũng có nguyện vọng tiếp tục ở với bà H và ông H1 cũng không có ý kiến phản đổi nên giao cho bà H tiếp tục nuôi cháu Vân là phù hợp với khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Bà H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đối với bị đơn ông Lê Văn H1 .
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Lê Văn H1.
Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là cháu Lê Thị Thúy V1, sinh ngày 05/9/2010.
Tạm thời ghi nhận ông Lê Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 84, Điều 85, Điều 86 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con, hạn chế quyền thăm nom con của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình nhưng được trừ 300.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005318 ngày 19/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C Đ, tỉnh Long An, bà H đã nộp đủ.
Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H và ông Lê Văn H1 vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định của Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện; - Chi cục THA DS huyện; - Cơ quan nơi đăng ký kết hôn - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thám |