- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đàm Thị D. Chị Đàm Thị D được ly hôn với anh Vương Văn Đ.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2023/HNGĐ – ST Ngày: 11 - 8 -2023 V/v "Ly hôn". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Thận và ông Trần Đức Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước không tham gia phiên tòa.
Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 49/2023/TLST- HNGĐ, ngày 07 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2023/QĐXX - ST ngày 26 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Đàm Thị D, sinh năm: 1984
Nơi cư trú: Thôn 5, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước
- Bị đơn: anh Vương Văn Đ, sinh năm 1983
Nơi cư trú: Thôn 5, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước
Nơi ở hiện tại: H, xã M, huyện A, tỉnh Đăk Lắk
(Đương sự vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 22/02/2023 và trong quá trình thụ lý vụ án, nguyên đơn chị Đàm Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vương Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước theo giấy đăng ký kết hôn số 26, quyển số 01/2009. Trong thời gian chung sống vợ chồng anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Chị và anh Đ đã sống ly thân khoảng từ năm 2017 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân mạnh ai nấy sống, không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ. Nay chị thấy mục đích hôn nhân không đạt được, không thể kéo dài hôn nhân thêm được nữa. Vì vậy, chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vương Văn Đ.
Về con chung: Chị và anh Đ có một người con chung, họ tên là Vương Đàm Thanh G, sinh ngày 29/6/2010. Tùy theo nguyện vọng của cháu G muốn ở với ai thì chị cũng đồng ý. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tư khai bị đơn anh Vương Văn Đ trình bày: Anh và chị Đàm Thị D tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước theo giấy đăng ký kết hôn số 26, quyển số 01/2009. Trong thời gian chung sống vợ chồng anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Anh và chị D đã sống ly thân khoảng từ năm 2017 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân mạnh ai nấy sống, không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ. Nay chị D yêu cầu ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn với chị D. Anh đồng ý giải quyết vụ án ly hôn với chị D tại Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Về con chung: Chị và anh Đ có một người con chung, họ tên là Vương Đàm Thanh G, sinh ngày 29/6/2010. Từ khi anh và chị D sống ly thân thì anh là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu G. Sau khi ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu G. Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Theo đơn khởi kiện của chị Đàm Thị D yêu cầu được ly hôn với anh Vương Văn Đ có nơi cư trú tại thôn 5, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; anh Đ có nơi ở hiện nay tại Hồ Thượng, xã Cư Mlan, huyện Ea Súp, tỉnh Đăk Lắk; anh Đ đồng ý giải quyết vụ án ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. Chị D và anh Đ chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn. Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Nguyên đơn chị D và bị đơn anh Đ xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và xét xử. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
Xét về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đàm Thị D yêu cầu ly hôn với anh Vương Văn Đ, Hội đồng xét xử xét thấy:
Chị D và anh Đ tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn ngày 17/3/2009 tại UBND xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước theo quy định pháp luật. Trong thời gian chung sống do vợ chồng không có sự hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, chị và anh Đ đã sống ly thân một khoảng thời gian từ năm 2017 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân chị D và anh Đ không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, dẫn đến hôn nhân không đạt được mục đích. Như vậy, chị D và anh Đ đã có sự vi phạm về nghĩa vụ của người vợ, người chồng đối với nhau; cụ thể: không còn sự thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, chung sống với nhau. Đối chiếu với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xét thấy hôn nhân giữa chị D và anh Đ lâm vào tình trạng trầm trọng, hôn nhân không đạt được mục đích, nay chị D yêu cầu ly hôn với anh Đ. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Về con chung: Chị D và anh Đ có một người con chung, họ tên là Vương Đàm Thanh G, sinh ngày 29/6/2010. Tại biên bản lời khai chị D và anh Đ đều thống nhất giao cháu Vương Đàm Thanh G cho anh Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tại biên bản lời khai cháu G cũng có nguyện vọng được ở với bố là anh Đ. Vì vậy, cần giao cháu Vương Đàm Thanh G sinh ngày 29/6/2010 cho anh Vương Văn Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Đương sự phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56; Điều 81,82,83,84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 28; Điều 35;Điều 147; Điều 131 Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.
1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đàm Thị D. Chị Đàm Thị D được ly hôn với anh Vương Văn Đ.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 26, ngày 17/3/2009 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước không còn hiệu lực khi Bản án hôn nhân gia đình về việc ly hôn của anh chị có hiệu lực pháp luật.
2.Về con chung: Giao cháu Vương Đàm Thanh G sinh ngày 29/6/2010 cho anh Vương Văn Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom hoặc cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
3.Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
4.Về tài sản và nợ chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
5.Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn chị Đàm Thị D phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp trước là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000926, ngày 06/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Nơi Nhận:
| - TAND tỉnh Bình phước; - VKSND h. Bù Đăng; - CC THADS h. Bù Đăng; - UBND xã (thị trấn); - Đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Thu Hà |