vanban.org

Bản án 68/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn R.

Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn R được ly hôn với chị Trương Thị Bé D Về quan hệ con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 09/10/2011; Phạm Thị Ngọc T1, sinh năm 01/03/2014 hiện tại đang sống chung với chị D cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ri - Duong"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn R.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN MINH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2023/HNGĐ-ST
Ngày 19 - 07 - 2023
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tới

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tấn Để

2. Bà Hồ Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang: Bà Lai Thị Ngọc Mãi, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 07 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 204/2022/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn R, sinh năm 1984 (có đơn xin vắng mặt)

* Bị đơn: Chị Trương Thị Bé D, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp N, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn anh Nguyễn Văn R trình bày và yêu cầu như sau:

Anh R và chị D chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ vào năm 2017, chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng thường hay cãi nhau, từ đó chị D bỏ nhà đi và từ cuối năm 2020 anh và chị D ly thân nhau cho đến nay. Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 09/10/2011; Phạm Thị Ngọc T1, sinh năm 01/03/2014, hiện 02 chung đang sống chung với chị D.

Vợ chồng không tranh chấp tài sản chung và không nợ ai.

Nay yêu cầu được ly hôn với chị D; giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 09/10/2011; Phạm Thị Ngọc T1, sinh năm 01/03/2014 cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng, anh R không cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa, anh R xin vắng mặt nên không có lời trình bày.

* Trong quá trình giải vụ án và tại phiên tòa bị đơn chị Trương Thị Bé D vắng mặt nên không có lời trình bày.

Kiểm sát viên phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; bị đơn thực hiện chưa đúng theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.

Hướng giải quyết vụ án: Về tình cảm vợ chồng: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, cho anh R được ly hôn với chị D; giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 09/10/2011; Phạm Thị Ngọc T1, sinh năm 01/03/2014 cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con: Chị D không yêu cầu anh R cấp dưỡng nuôi con nên không xét; về tài sản chung không tranh chấp nên không xem xét; về nợ không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng do bị đơn chị Trương Thị Bé D thực hiện không đúng theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự và ngày 05/01/2023 anh R nộp đơn xin giải quyết vắng mặt nên xác định là vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định của Điều 207 của BLTTDS. Tòa án đến nơi cư trú của chị D để tiến hành lấy lời khai nhưng chị D không có mặt tại nơi cư trú nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai chị D được. Ngày 09 tháng 6 năm 2023 Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự và hoãn phiên tòa lần thứ nhất do chị D vắng mặt không lý do, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa cho chị D, nhưng chị D vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị D theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn R và chị Trương Thị Bé D chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ vào năm 2017 nên hôn nhân là hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa anh R và chị D không hợp nhau, thường hay cãi nhau, anh R và chị D không tự dàn xếp được nên mâu thuẫn ngày càng xảy ra gay gắt đến năm 2020 anh R và chị D ly thân nhau đến nay.

Tại biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân ngày 11/01/2023 thì chính quyền địa phương không xác định được mâu thuẫn của anh R và chị D.

Xét thấy giữa anh R và chị D đã ly thân nhau trong một thời gian dài, hai người không có biện pháp hàn gắn. Như vậy, hôn nhân giữa anh R và chị D không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Theo yêu cầu của anh R và đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận. Cho anh R được ly hôn với chị D.

Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 09/10/2011; Phạm Thị Ngọc T1, sinh năm 01/03/2014 hiện tại đang sống chung với chị D. Anh R đồng ý giao 02 người con chung cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 09/10/2011; Phạm Thị Ngọc T1, sinh năm 01/03/2014 hiện tại đang sống chung với chị D cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trương Thị Bé D không yêu cầu anh Nguyễn Văn R cấp dưỡng nuôi con chung nên không xét.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Văn R xác định là không tranh chấp tài sản chung và không nợ ai, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn R phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 227, Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 , khoản 3 Điều 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn R.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn R được ly hôn với chị Trương Thị Bé D

- Về quan hệ con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 09/10/2011; Phạm Thị Ngọc T1, sinh năm 01/03/2014 hiện tại đang sống chung với chị D cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trương Thị Bé D không yêu cầu anh Nguyễn Văn R cấp dưỡng nuôi con chung nên không xét.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Văn R xác định là không tranh chấp tài sản chung và không nợ ai, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Anh Nguyễn Văn R phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, theo biên lai thu số: 0001017 ngày 16/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh. Anh R đã nộp xong.

- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, anh Nguyễn Văn R và chị Trương Thị Bé D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ