- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị Hồ Thị D và anh Hoàng Quốc N"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị D được ly hôn với anh Hoàng Quốc N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật tr…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 9 - 2023 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền
Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng; ông Nguyễn Tất Thể
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 93/2023/TLST - HNGĐ, ngày 28 tháng 6 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hồ Thị D, sinh năm 1996; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt
2. Bị đơn: Anh Hoàng Quốc N, sinh năm 1982; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: Thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Hàn Quốc. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong quá trình giải quyết, vụ án có nội dung như sau:
- Nguyên đơn chị Hồ Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị D và anh Hoàng Quốc N tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn với nhau vào ngày 04/02/2015 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau tại nhà nội, thỉnh thoảng vợ chồng có cải vã và mâu thuẫn nhưng sau đó vẫn dung hòa để sống cùng nhau. Năm 2017, anh N đi lao động tại Hàn Quốc, thời gian đầu vợ chồng vẫn liên lạc bình thường cho đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng mỗi người một nơi, thời gian xa nhau lâu nên dẫn đến bất đồng quan điểm, tình cảm phai nhạt, sau đó chị D đưa các con về sinh sống ở nhà bố mẹ đẻ cho đến nay. Nay, chị D nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể tiếp tục hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị D làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn.
Về quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị Hồ Thị D và anh Hoàng Quốc N có 02 con chung là Hoàng Phương Y, sinh ngày 15/8/2015 và Hoàng Quốc K, sinh ngày 09/7/2017, hiện nay các cháu đang sống cùng chị D. Chị D có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng hai con chung và yêu cầu anh N đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu một tháng 2.000.000 đồng cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Quá trình giải quyết vụ án, anh Hoàng Quốc N trình bày thống nhất với chị Hồ Thị D về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn, thời gian chung sống hạnh phúc cũng như thời gian xảy ra mâu thuẫn và nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn. Nay anh N cũng nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nên chị D làm đơn yêu cầu ly hôn anh N đồng ý
Về con chung: Anh Hoàng Quốc N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung Hoàng Phương Y, sinh ngày 15/8/2015 và Hoàng Quốc K, sinh ngày 09/7/2017 đến tuổi trưởng thành. Tuy nhiên, anh cho biết hiện nay anh đang lao động ở Hàn Quốc không thể trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng các con nên anh đồng ý giao hai con chung cho chị D chăm sóc và nuôi dưỡng và anh sẽ đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 2.000.000 đông/tháng kể từ thời điểm vợ chồng ly hôn cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Hoàng Quốc N cho biết hiện nay anh đang lao động tự do tại Hàn Quốc nên không thể cung cấp được địa chỉ cụ thể của mình cũng như do công việc không thể trực tiếp về Việt Nam để giải quyết vụ án nên đề nghị được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và ủy quyền việc giao nhận tài liệu cho chị Hoàng Thị N (em gái anh N); địa chỉ: Thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, mục 2 phần II Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao về giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, xử:
- Về tình cảm: Xử cho chị Hồ Thị D được ly hôn với anh Hoàng Quốc N
- Về con chung: Giao hai con chung Hoàng Phương Y, sinh ngày 15/8/2015 và Hoàng Quốc K, sinh ngày 09/7/2017 cho chị Thúy trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Hoàng Quốc N đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 2.000.000 đồng/tháng và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con không được ai ngăn cản.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét
- Buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về tố tụng:
Anh Hoàng Quốc N hiện đang sinh sống, lao động tự do tại Hàn Quốc không có địa chỉ cụ thể. Tại công văn số 17771/QLXNC-P5, ngày 13/7/2023 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an, xác nhận: Anh Hoàng Quốc N, sinh ngày 06/01/1982 đã xuất cảnh gần nhất vào ngày 27/3/2017, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Hoàng Quốc N trình bày vì điều kiện công việc không thể trực tiếp về Việt Nam để giải quyết vụ án và yêu cầu được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, anh N ủy quyền giao nhận tài liệu, chứng cứ của Tòa án cho chị Hoàng Thị N (em gái anh N); địa chỉ: Thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.
Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Hoàng Quốc N theo thủ tục chung.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị D và anh Hoàng Quốc N tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn ngày 04/02/2015 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định về điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng mỗi người một nơi, thiếu sự chia sẻ cùng nhau và do bất đồng về quan điểm sống, cuộc sống không có tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi, dẫn đến không còn tình cảm với nhau.
Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chung thủy, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau…nhưng cuộc hôn nhân của chị D và anh N không đạt được. Tại Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Vì vậy, cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hồ Thị D xử cho chị Hồ Thị D được ly hôn anh Hoàng Quốc N.
Quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị Hồ Thị D và anh Hoàng Quốc N có 02 con chung là Hoàng Phương Y, sinh ngày 15/8/2015 và Hoàng Quốc K, sinh ngày 09/7/2017. Hội đồng xét xử xét thấy, các cháu Hoàng Phương Y và Hoàng Quốc K từ khi anh N đi lao động nước ngoài đến nay, cháu sinh sống cùng chị D, được chị D chăm sóc và nuôi dưỡng tốt; anh Hoàng Quốc N hiện nay đang lao động tại Hàn Quốc không thể trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với con chung. Quá trình giải quyết vụ án, anh N và chị D đã thống nhất giao hai con chung cho chị D trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, anh N đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 2.000.000 đồng/tháng. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của chị D cũng như sự thống nhất thảo thuận giữa anh N và chị D.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 37, 227, 273, 469, khoản 2 Điều 479, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; mục 2 phần II Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao về giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị D được ly hôn với anh Hoàng Quốc N.
2. Về con chung: Giao hai con chung Hoàng Phương Y, sinh ngày 15/8/2015 và Hoàng Quốc K, sinh ngày 09/7/2017 cho chị Hồ Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi về quyền nuôi con. Anh Hoàng Quốc N đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 2.000.000 (Hai triệu đồng)/tháng kể từ tháng 9/2023 cho đến khi con đến tuổi trưởng thành và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không được ai ngăn cản.
3. Về án phí: Chị Hồ Thị D tự nguyện chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000552 ngày 27/6/2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Chị Hồ Thị D còn phải nộp tiếp 300.000 đồng
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh; - UBND xã K ; - Đương sự; - Lưu HS, TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Thu Hiền |