vanban.org

Bản án 68/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điều 14, 15, 17, 19, 21, 22, 29 Nghị định số144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu, phường;

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc X đối với bị đơn bà Huỳnh Thị G. Buộc bà Huỳnh Thị G có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị Ngọc X số tiền hụi còn nợ là 28.600.000 (hai mươi tám triệu sáu trăm nghìn) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Lê Thị Ngọc X- Huỳnh Thị G"
  • Tòa quyết gì? Điều 14, 15, 17, 19, 21, 22, 29 Nghị định số144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu, phường;
  • Căn cứ chính? Điều 14 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG TRÔM
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2023/DS-ST
Ngày: 09-6-2023
V/v “Tranh chấp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM - TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngoan

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Võ Thị Thanh Thủy

Ông Phạm Quốc Toàn

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Ngày 09 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 41/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 2 năm 2023 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2023/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc X, sinh năm 1985.

Địa chỉ: ấp 5, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre.

*Bị đơn: Bà Huỳnh Thị G, sinh năm 1985.

Địa chỉ: ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre.

(Bà X, bà G vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt cùng các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc X trình bày:

Do có quen biết với nhau từ trước, vào ngày 22/5/2019 bà có tham gia chơi 01 dây hụi do bà Huỳnh Thị G làm chủ hụi, cụ thể:

- Dây hụi mệnh giá 2.000.000 đồng, khui ngày 22/5/2019, hụi có 21 phần, bà tham gia 01 phần, bà đã đóng được 17 tháng với số tiền 34.000.000 đồng, bà chưa hốt hụi thì bà G tuyên bố vỡ hụi, đến nay chưa trả lại cho bà số tiền hụi đã đóng. Bà nhiều lần liên hệ đòi tiền nhưng bà G cứ hứa lần lựa cho đến nay vẫn chưa trả.

Vì vậy bà khởi kiện yêu cầu bà G trả số tiền hụi còn nợ là 28.600.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; bản sao đơn khởi kiện và chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện cho bà G nhưng bà G đều vắng mặt và cũng không gởi bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà X.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Bà X khởi kiện yêu cầu bà G trả tiền hụi là 28.600.000 đồng. Đây là tranh chấp hụi thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bà G có nơi cư trú tại xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre nên Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26 và Điều 35 Bộ luật tố tụng Dân sự. Bà X có đơn xin giải quyết vắng mặt, bà G đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà X và bà G.

[2] Về nội dung vụ án: Theo bà X khai do có quen biết với nhau từ trước, vào ngày 22/5/2019 bà có tham gia chơi 01 dây hụi do bà Huỳnh Thị G làm chủ hụi, cụ thể: Dây hụi mệnh giá 2.000.000 đồng, khui ngày 22/5/2019, hụi có 21 phần, bà tham gia 01 phần, bà đã đóng được 17 tháng với số tiền 34.000.000 đồng, bà chưa hốt hụi thì bà G tuyên bố vỡ hụi, đến nay chưa trả lại cho bà số tiền hụi đã đóng. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của bà X là danh sách khui hụi ngày 22/5/2019 và hình chụp các tin nhắn trên điện thoại trao đổi giữa bà X và bà G. Bà nhiều lần liên hệ đòi tiền nhưng bà G cứ hứa lần lựa cho đến nay vẫn chưa trả.

Hội đồng xét xử xét thấy, việc tham gia chơi hụi giữa các bên trên cơ sở tự nguyện, việc này có xảy trên thực tế và các bên đã thừa nhận. Dây hụi bà X tham gia, bà X đã đóng 34.000.000 đồng, chưa hốt hụi và chưa mãn hụi nhưng bà G ngưng thu hụi và chưa giao trả số tiền hụi bà X đã đóng. Như vậy, bà G đã vi phạm nghĩa vụ cũng như không thực hiện đúng trách nhiệm của chủ hụi nên yêu cầu khởi kiện của bà X là có cơ sở. Căn cứ các Điều 14, 15, 17, 19, 21, 22, 29, Nghị định số: 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu, phường, chấp nhận yêu cầu của bà X.

[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà X được chấp nhận nên bà G có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 28.600.000 x 5% = 1.430.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 288, 357, 466, 468, 471 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ các Điều 147, 192, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 14, 15, 17, 19, 21, 22, 29 Nghị định số144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu, phường;

Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc X đối với bị đơn bà Huỳnh Thị G.

Buộc bà Huỳnh Thị G có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị Ngọc X số tiền hụi còn nợ là 28.600.000 (hai mươi tám triệu sáu trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

- Buộc bà Huỳnh Thị G phải nộp số tiền án phí là 1.430.000 (một triệu bốn trăm ba mươi nghìn) đồng.

- Chi cục thi hành án huyện Giồng Trôm hoàn lại cho bà Lê Thị Ngọc X số tiền tạm ứng án phí đã nộp 715.000 (bảy trăm mười lăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000126 ngày 02/02/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

[3] Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo trong 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ