vanban.org

Bản án 68/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 16/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Hồng Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Trịnh Hồng Th 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ (14/02/2022). Án phí: Buộc bị cáo Trịnh Hồng Th phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Hồng Th - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Hồng Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NB
TỈNH NB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2022/HS-ST
Ngày: 16 - 6 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NB, TỈNH NB

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Diệu Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Kim Phượng

Bà Lã Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Phương Liên - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố NB, tỉnh NB tham gia phiên tòa: Ông Phạm Việt Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố NB, tỉnh NB xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2022 đối với:

Bị cáo Trịnh Hồng Th, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1976 tại NB; nơi cư trú: Số nhà 11, đường Đ, phố K, phường T, thành phố NB, tỉnh NB; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Hồng T (Đã chết) và bà Đào Thị T1; có vợ Lê Thị Thanh H (Đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2002; tiền án: Không, tiền sự (01): Tại Quyết định số 110 ngày 23/9/2021 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thành phố NB áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng, ngày 23/12/2021 chấp hành xong; bị tạm giữ từ ngày 14/02/2022 đến ngày 19/2/2022 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh NB “có mặt”.

- Bị hại: Công ty cổ phần du lịch Hoa Lư

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lê Văn Kh, sinh năm 1952, nơi cư trú: số nhà 23, phố P, phường PT, thành phố NB, tỉnh NB (Văn bản ủy quyền ngày 17/02/2022) “có mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Dương Danh Th1, sinh năm 1979; nơi cư trú: số nhà 564, đường Đ, phố M, phường NK, thành phố NB, tỉnh NB “vắng mặt”.

+ Chị Nguyễn Thị Th2, sinh năm 1973; nơi cư trú: số nhà 55, ngõ 63, đường L, phố BC, phường NK, thành phố NB, tỉnh NB “vắng mặt”.

+ Ông Hoàng Anh Q, sinh năm 1959; nơi cư trú: số nhà 181, đường Đ, phố BH, phường NK, thành phố NB, tỉnh NB “có mặt”.

+ Bà Đào Thị T1, sinh năm 1949; nơi cư trú: số nhà 11, đường D, phố K, phường T, thành phố NB, tỉnh NB “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Hồng Th là đối tượng không có công việc ổn định, để có tiền tiêu xài, ngày 12 và ngày 13/02/2022 Th đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại khu vực núi Kỳ Lân thuộc phường T, thành phố NB, là khu vực thuộc quyền quản lý của Công ty cổ phần du lịch Hoa Lư, cụ thể:

Ngày 12/02/2022:

Khoảng 8 giờ 30 phút, Th đi xe mô tô Wave mầu xanh biển kiểm soát 35N1-060.58 đến khu vực núi Kỳ Lân. Đến nơi Th để xe mô tô trên vỉa hè đường Tràng An rồi đi bộ qua cầu đá vào khu vực Đền Mẫu tìm tài sản để trộm cắp. Khi vào trong Đền Mẫu, Th đi đến ban thờ đầu tiên phát hiện chiếc ống đựng hương bằng đồng, mầu vàng, chiều cao 23,7cm, trọng lượng 1,8kg, Th lấy chiếc ống đựng hương cất giấu trong người rồi ra lấy xe mô tô đi đến cửa hàng của anh Dương Danh Th1 bán được 260.000 đồng.

Đến khoảng 10 giờ cùng ngày Th lại tiếp tục đến khu vực núi Kỳ Lân, để xe trên vỉa hè đường Tràng An rồi đi bộ qua cầu đá, đi vào khu vực Đền Mẫu, đến ban thờ thứ hai Th lấy 02 bình hoa bằng đồng, mầu vàng, có chiều cao 29,5 cm, đường kính 11,5 cm, trọng lượng 3,5 kg. Sau đó Th đi xe đến cửa hàng của anh Th1 để bán, do anh Th1 không mua nên Th mang 02 bình hoa đến cửa hàng của ông Hoàng Anh Q bán được 400.000 đồng.

Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Th đi đến khu vực núi Kỳ Lân, để xe trên vỉa hè đường Tràng An rồi đi bộ ra Bảo Tháp, phát hiện 01 chiếc thỉnh chuông bằng đồng, mầu vàng, chiều cao 12cm, đường kính 23 cm, trọng lượng 03kg để trên bàn thờ. Th lấy chiếc chuông giấu vào trong người rồi mang đến cửa hàng thu mua sắt vụn của chị Nguyễn Thị Th2 bán được 440.000 đồng.

Sau đó, Th lại đi xe về khu vực núi Kỳ Lân, để xe trên vỉa hè Tràng An, đi bộ vào trong khu phố cổ Hoa Lư, đi đến gian hàng bán đồ gỗ cuối cùng lấy 02 bức tranh bằng gỗ mầu đen, chiều cao 59cm, rộng 17cm, dầy 2,5cm giấu trong người rồi mang về nhà cất giấu.

Ngày 13/02/2022:

Khoảng 8 giờ 30 phút Th đi đến khu vực núi Kỳ Lân, để xe trên vỉa hè đường Tràng An, đi qua cầu đá lên chùa Một Cột trên đỉnh núi, phát hiện thấy 01 chiếc chuông thỉnh bằng đồng mầu đen, chiều cao 14,5 cm, đường kính 19,5 cm, trọng lượng 04 kg, Th lấy giấu vào trong người rồi đi đến cửa hàng thu mua sắt vụn để bán cho chị Nguyễn Thị Th2, chị Th2 không mua và trả lại cho Th 01 chuông thỉnh bằng đồng, mầu vàng mà chị đã mua của Th chiều ngày 12/02/2022. Th liền mang 02 chiếc chuông thỉnh đến cửa hàng của ông Hoàng Anh Q bán được 700.000 đồng.

Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Th đến núi Kỳ Lân, để xe trên vỉa hè đường Tràng An, đi qua cầu đá vào đền Mẫu, Th nhìn thấy phía dưới chiếc bàn ở bên tay trái lối vào có 02 chiếc bình cắm hoa, chiều cao 32 cm, đường kính 18,5 cm, có hoa văn mầu xanh bằng xứ, Th lấy 01 bình hoa, giấu trong người rồi mang về nhà để trên kệ ti vi.

Khoảng 14 giờ cùng ngày, Th tiếp tục đi đến núi Kỳ Lân để xe trên vỉa hè đường Tràng An, đi bộ vào khu vực phố cổ Hoa Lư, đến gian hàng bán đồ gốm sứ Th lấy 01 hộp đựng chè bằng sứ mầu trắng, nắp mầu vàng, chiều cao 16 cm, rộng 16 cm, rồi mang về nhà sử dụng.

Sau khi sự việc bị phát hiện, Trịnh Hồng Th đã đến Công an thành phố NB xin đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp: 01 hộp đựng chè bằng sứ mầu trắng, 02 bức tranh bằng gỗ mầu đen. Anh Dương Danh Th1 giao nộp 02 bình hoa bằng đồng, mầu vàng. Ông Hoàng Anh Q giao nộp 02 bình hoa bằng đồng, 01 thỉnh chuông bằng đồng mầu vàng, 01 thỉnh chuông bằng đồng mầu đen. Bà Đào Thị T1 là mẹ của bị cáo Th giao nộp: 01 xe mô tô Wave mầu xanh biển kiểm soát 35N1-060.58, 01 mũ bảo hiểm mầu xanh, 01 lọ hoa bằng sứ.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 04 ngày 15/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố NB kết luận: 01 chuông thỉnh bằng đồng (mầu vàng) chiều cao 12 cm, đường kính 23 cm, trọng lượng 03 kg, trị giá 1.400.000 đồng; 01 chuông thỉnh bằng đồng (mầu đen) chiều cao 14,5 cm, đường kính 19,5 cm, trọng lượng 4 kg, trị giá 2.000.000 đồng; 02 bình cắm hoa bằng đồng (mầu vàng) chiều cao 29,5 cm, đường kính 11,5 cm, trọng lượng 3,5 kg trị giá 1.200.000 đồng; 01 ống đựng hương bằng đồng, chiều cao 23,7 cm, trọng lượng 1,8 kg trị giá 800.000 đồng; 01 lọ hoa bằng sứ, chiều cao 32 cm, đường kính 18,5 cm trị giá 400.000 đồng; 01 hộp đựng chè bằng sứ mầu trắng, nắp mầu vàng, chiều cao 16 cm, rộng 16 cm, chiều sâu 10 cm trị giá 950.000 đồng; 02 bức tranh bằng gỗ mầu đen, chiều cao 59 cm, rộng 17 cm, dầy 2,5 cm trị giá 1.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 7.750.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 62/CT-VKSTPNB ngày 17 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố NB đã truy tố để xét xử bị cáo Trịnh Hồng Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Hồng Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố NB đã truy tố.

Đại diện hợp pháp của bị hại ông Lê Văn Kh khai: Sáng ngày 14/02/2022 ông được bảo vệ khu vực núi Kỳ Lân thông báo việc mất tài sản tại một số hạng mục. Quá trình kiểm tra phát hiện tài sản bị mất gồm: 02 gõ chuông bằng đồng, 01 bình sứ, 01 ống cắm hương, 02 bức tranh bằng gỗ mầu đen, 01 hộp chè bằng sứ, 02 bình cắm hoa bằng đồng. Số tài sản này được đặt tại điện, chùa và khu vực phố cổ Hoa Lư tại núi Kỳ Lân. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ các tài sản trên cho công ty nên công ty không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Anh Q khai: Khoảng 10 giờ 30 ngày 12/2/2021, ông có mua hai chiếc bình hoa, kim loại mầu vàng của một người nam thanh niên không quen biết với giá 400.000 đồng. Đến 9 giờ 15 phút ngày 13/02/2022 ông có mua của người thanh niên này một chiếc gõ chuông kim loại mầu vàng và một chiếc gõ chuông kim loại tối mầu với số tiền là 700.000 đồng. Ông không biết tài sản trên là đồ trộm cắp vì khi bán người thanh niên nói là đồ thờ cúng của nhà, ông tin tưởng nên đã mua. Ông Q đã tự nguyện giao nộp toàn bộ tài sản mua được cho cơ quan công an. Ông đã được bà Đào Thị T1 mẹ của nam thanh niên trả lại tổng số tiền 1.100.000 đồng đã mua số tài sản trên, ông không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Dương Danh Th1 khai: Khoảng 09 giờ ngày 12/02/2022, có một người nam giới đến bán chiếc ống hương tại cửa hàng của anh ở số nhà 564, đường Trần Hưng Đạo, phố Mía Đông, phường NK, thành phố NB. Người nam giới có nói với anh đây là đồ của gia đình và muốn bán. Anh đồng ý mua theo cân, 130.000 đồng một cân, tổng số tiền là 260.000 đồng. Sau đó anh đưa cho người nam giới 260.000 đồng tiền mặt. Sau khi cơ quan điều tra làm việc, anh mới được biết chiếc ống hương này là tài sản do Th trộm cắp mà có, anh đã giao nộp lại chiếc ống hương cho cơ quan điều tra. Anh đã được bà Đào Thị T1 là mẹ của Th trả lại số tiền 260.000 đồng, anh không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Th2 khai: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 12/02/2022 có một thanh niên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mầu xanh, đem một chiếc chuông đồng mầu nâu nặng 4 kg nói là của bố để lại đến bán và chị đã mua với giá 440.000 đồng. Sau khi mua xong chị mới nhìn kỹ và nhận ra đó là của đình hay chùa nên chị xác định sẽ trả lại hoặc tiến cúng lên chùa. Đến ngày 13/02/2022 khoảng 09 giờ 10 phút nam thanh niên đó lại mang thêm 01 chiếc chuông nữa đến, chị không mua và cầm chiếc chuông đã mua ngày 12/02/2022 trả lại, người nam thanh niên cầm chiếc chuông đi và hứa trả lại chị 300.000 đồng, nhưng không thấy quay lại. Sau khi cơ quan công an đến làm việc, chị được biết chiếc chuông đồng mầu vàng do nam thanh niên bán cho chị là tài sản do trộm cắp mà có. Bà Đào Thị T1 mẹ nam thanh niên đã trả cho chị số tiền chị mua chiếc chuông là 440.000 đồng, chị không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đào Thị T1 khai: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Biển kiểm soát 35N1-060.58 là tài sản của bà, do bà bỏ tiền ra mua vào năm 2015 tại cửa hàng bán xe máy cũ ở đường Trần Hưng Đạo, phường NK. Hiện do tuổi cao nên bà không sử dụng mà cho con trai là anh Th mượn sử dụng đi lại. Bà không biết việc Th sử dụng xe mô tô để đi trộm cắp tài sản. Khi Th mang mấy đồ như bình sứ, tranh gỗ về nhà, bà có hỏi thì Th có nói là mua về sử dụng, khi công an đến làm việc thông báo bà mới biết việc Th trộm cắp tài sản. Bà đã trả cho anh Dương Danh Th1 số tiền 260.000 đồng, ông Hoàng Anh Q số tiền 1.100.000 đồng, chị Nguyễn Thị Th số tiền 440.000 đồng. Vì Th là con trai bà nên bà không yêu cầu Th phải trả lại số tiền bà đã bồi Th1 cho anh Th1, anh Q, chị Th. Chiếc xe mô tô cơ quan công an đã trả lại cho bà, bà không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố NB giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trịnh Hồng Th phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trịnh Hồng Th từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 14/02/2022.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự: Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trịnh Hồng Th, ông Lê Văn Kh, ông Hoàng Anh Q trình bày nhất trí với nội dung luận tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng bị cáo Trịnh Hồng Th đề nghị Tòa án xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm có cơ hội quay trở lại đời sống xã hội, sửa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố NB, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố NB, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Trịnh Hồng Th đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố NB đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận: Trong 02 ngày 12/02/2022 và 13/02/2022 tại khu vực núi Kỳ Lân thuộc phường T, thành phố NB, Trịnh Hồng Th đã liên tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của Công ty cổ phần du lịch Hoa Lư, cụ thể: Ngày 12/02/2022 Trịnh Hồng Th lén lút chiếm đoạt 01 ống đựng hương bằng đồng, 02 bình hoa bằng đồng, 01 chuông thỉnh bằng đồng (mầu vàng), 02 bức tranh bằng gỗ mầu đen. Ngày 13/02/2022, Trịnh Hồng Th lén lút chiếm đoạt 01 chuông thỉnh bằng đồng (mầu đen), 01 lọ hoa bằng sứ, 01 hộp đựng chè bằng sứ. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 7.750.000 đồng, trong đó có 01 lần trộm cắp chiếc thỉnh bằng đồng (mầu đen) trị giá 2.000.000 đồng. Bị cáo Trịnh Hồng Th là người có đầy đủ năng lực hành vi, biết rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản là xâm phạm quyền sở hữu của doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

…”

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố NB truy tố bị cáo Trịnh Hồng Th về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp liên tục, tổng giá trị 7.750.000 đồng, trong đó có 01 lần trộm cắp chiếc thỉnh chuông bằng đồng mầu đen trị giá 2.000.000 đồng, thuộc trường hợp “Phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi sự việc bị phát hiện, Trịnh Hồng Th đã đến Công an thành phố NB xin đầu thú, khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Xét tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ, hành vi lén lút nhiều lần đột nhập vào khu vực quản lý của doanh nghiệp để trộm cắp tài sản thể hiện thái độ coi Th1 pháp luật, gây tâm lý bất bình, hoang mang cho cán bộ, công nhân viên đang công tác tại các hạng mục khu vực núi Kỳ Lân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung. Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, khi lượng hình cần xem xét cân nhắc áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, xét thấy: Bị cáo là lao động tự do, không có công việc ổn định, không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với 01 chuông thỉnh bằng đồng (mầu vàng), 01 chuông thỉnh bằng đồng (mầu đen), 02 bình hoa bằng đồng (mầu vàng), 01 ống đựng hương bằng đồng, 01 lọ hoa bằng sứ, 01 hộp đựng chè bằng sứ mầu trắng, 02 bức tranh bằng gỗ mầu đen là tài sản của Công ty cổ phần du lịch Hoa Lư, Cơ quan điều tra đã trả lại cho người đại diện hợp pháp của công ty là ông Lê Văn Kh. Ông Kh đã nhận lại toàn bộ số tài sản trên và không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Đối với 01 xe mô tô Honda Wave mầu xanh biển kiểm soát 35N1-060.58, quá trình điều tra xác định chiếc xe máy là tài sản hợp pháp của bà Đào Thị T1. Bà T1 cho Th mượn xe làm phương tiện đi lại, bà T1 không biết việc Th sử dụng xe mô tô làm phương tiện trộm cắp tài sản. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố NB đã trả lại chiếc xe mô tô và 01 mũ bảo hiểm mầu xanh thu giữ của Trịnh Hồng Th cho bà T1 là đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu hồi được toàn bộ số tài sản bị mất và trả lại cho bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Số tiền bà Đào Thị T1 đã trả cho anh Dương Danh Th1 260.000 đồng, ông Hoàng Anh Q 1.100.000 đồng, chị Nguyễn Thị Th2 440.000 đồng; bà T1 xác định cho Th số tiền này, không yêu cầu hoàn trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Dương Danh Th1, ông Hoàng Anh Q, chị Nguyễn Thị Th2 là người mua tài sản của Trịnh Hồng Th nhưng không biết tài sản do trộm cắp mà có nên không vi phạm pháp luật.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Do bị tuyên có tội nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th1 vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th1 vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Hồng Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Trịnh Hồng Th 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ (14/02/2022).

3. Án phí: Buộc bị cáo Trịnh Hồng Th phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ