vanban.org

Bản án 68/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội Tuyên án 31/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn H phạm tội “Cƣớp tài sản”

Xử phạt : Trịnh Văn H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đầu thú 13/3/2021. Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Văn H - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn H phạm tội “Cƣớp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------------
Bản án số: 68/2022/HS-ST
Ngày 31/03/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tô Thanh Tú

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Hạnh

2. Bà Phạm Thị Lâm Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 03 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 01/2022/HS-ST ngày 06/01/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/QĐXX-ST ngày 17/01/2022, quyết định hoãn phiên tòa số 09 ngày 27/01/2022, quyết định hoãn phiên tòa số 11 ngày 18/02/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 22 ngày 18/3/2022 đối với bị cáo:

Trịnh Văn H (tên gọi khác: Không), sinh năm 1984 tại tỉnh Nam Định; ĐKNKTT và chỗ ở: xóm 12A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trịnh Xuân H1; Con bà: Mai Thị T; Danh chỉ bản số 241 ngày 22/3/2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú ngày 13/3/2021; tạm giữ ngày 14/3/2021; tạm giam ngày 20/3/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Thị Hồng, Luật sư thuộc Công ty Luật TNHH Hồng Minh Quang, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa

*Những người bị hại:

1. Cháu Đỗ Thị Minh H2, sinh năm 2005

Vắng mặt tại phiên tòa

Người đại diện cho cháu H2: Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1985

Cùng trú tại: Số 3 ngách 207/129 tổ X2, phường X, quận B, thành phố Hà Nội

Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

2. Cháu Nguyễn Quang M, sinh năm 2004

Vắng mặt tại phiên tòa

Người đại diện cho cháu M: Anh Nguyễn Quang B, sinh năm 1978

Cùng trú tại: số 7 ngõ 26 phố C, phường Q, quận C, thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu M: Ông Nguyễn Hồng Hải, Luật sư thuộc Công ty Luật TNHH SHTC&PARTNERS, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Đinh Thị B1, sinh năm 1989

Trú tại: thôn M, xã P, huyện Y, tỉnh Phú Thọ

Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

2. Chị Trần Thị Thái L, sinh năm 1971

Trú tại: Phòng 901, chung cư số 172 phố T, tổ 7 phường M2, quận N, thành phố Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

3. Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1985

Trú tại: Số 3 ngách 207/129 tổ X2, phường X, quận B, thành phố Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

4. Cháu Nguyễn Gia C, sinh năm 2004

Trú tại: tiểu khu 20, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La

Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Văn H là đối tượng không có nghề nghiệp, do cần tiền chi tiêu cá nhân nên tối ngày 12/3/2021 H đi xe khách từ nhà tại xã Xuân Kiên, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định lên thành phố Hà Nội để tìm việc làm. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 13/3/2021, H đến thành phố Hà Nội và đi bộ lang thang trên các tuyến đường thuộc khu vực quận Cầu Giấy. Khoảng 10 giờ sáng cùng ngày, H nảy sinh ý định cướp tài sản để bán lấy tiền tiêu sài nên đã đi mua 02 con dao, loại dao bằng inox, chuôi bằng nhựa màu đen, lưỡi dao tù nhọn, 01 khẩu trang, 01 mũ lưỡi chai màu vàng để làm phương tiện cướp tài sản. H cất giấu 02 con dao phía bên trong cạp quần, đeo khẩu trang, đội mũ và đi bộ một mình xung quanh khu vực làng quốc tế Thăng Long, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xem ai sơ hở để cướp tài sản.

Khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, H đi bộ dọc dải phân cách trên đường Nguyễn Phong Sắc hướng từ phố Tô Hiệu về đường Xuân Thủy thì nhìn thấy tại khu vực lòng đường phía trước cửa tòa nhà 107A đường Nguyễn Phong Sắc có 05 học sinh nữ gồm: Đỗ Thị Minh H2 (sinh ngày 08/12/2005, HKTT: Số 3, ngách 207/129 tổ X2, phường X, quận B, thành phố Hà Nội), Công Thị Xuân M (sinh năm 2005, HKTT: số 153 đường P, phường X, quận B, thành phố Hà Nội), Nguyễn Thanh T4 (sinh năm 2005, HKTT: số 5, ngách 355/49 đường X, quận B, thành phố Hà Nội), Phạm Khánh L1 (sinh năm 2005, HKTT: số 68 phố T3, tổ T, phường X, quận B, thành phố Hà Nội), Nguyễn Hoài P (sinh năm 2005, HKTT: số 28, ngõ 95 đường X, phường X, quận B, thành phố Hà Nội) đang ngồi trên 03 xe máy, trong đó có Đỗ Thị Minh H2 ngồi trên chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh ngọc, BKS 29L5-437.27, H liền nảy sinh ý định cướp chiếc xe máy Honda Wave của cháu H2. Vì vậy, H đã di chuyển đến vị trí của cháu H2 và dùng hai tay đẩy mạnh vào bên vai trái của cháu H2 khiến H2 bị chao đảo nghiêng người nhưng không ngã khỏi xe. Sau đó, H đã nắm lấy tay lái bên trái của chiếc xe nhằm mục đích chiếm đoạt chiếc xe của cháu H2 nhưng H2 đã chống cự và đẩy được H ra đồng thời hô “Cướp, cướp”. Cùng lúc này, cháu Nguyễn Hoài P đang đứng ở bên cạnh đã hỗ trợ cùng giữ chiếc xe trên lại. Thấy sự việc bất thành, H bỏ chạy về hướng đường Xuân Thủy. Khi đang chạy về hướng đường Xuân Thủy thì gặp nhóm của cháu Nguyễn Quang M (sinh năm 2004, HKTT: số 7, ngõ 26 phố C, phường Q, quận C, thành phố Hà Nội), Nguyễn Đình Hải N (sinh năm 2004, HKTT: số 126 đường T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội), Đỗ Ngọc T4 (sinh năm 2004, HKTT: phòng 505 chung cư P, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội) đang đi trên chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision (màu xanh đậm, không BKS) do cháu M điều khiển trên đường Nguyễn Phong Sắc theo hướng về đường Xuân Thủy nhìn thấy sự việc nên đã phóng xe đuổi theo. Khi H đi đến vỉa hè của cửa hàng bán xăng quân đội (Địa chỉ: Số 125 đường Nguyễn Phong Sắc, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội) thì nhóm M đuổi kịp và điều khiển xe máy vượt lên chặn đầu H. Lúc này, cháu M vẫn ngồi trên xe và nói với H “Mày định làm gì?”, H không trả lời mà tiếp tục đi bộ về phía trước. Thấy vậy, M xuống xe và đấm 01 cái vào lưng H. Lúc này H nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy của M nên đã lấy 02 con dao đang giấu bên trong cạp quần, mỗi tay cầm 01 con dao và dùng tay phải đâm 01 cái vào vùng vai phải M nhưng đã trúng vào ngực phải của M. Mục đích H đâm để dọa M và để H dễ chiếm đoạt chiếc xe máy của M. Cháu M bị đâm bỏ chạy vài bước thì ngã xuống đường, N, T4 sợ hãi bỏ chạy. Lúc này, H tiến đến và lấy chiếc xe máy Honda vision điều khiển bỏ chạy từ hướng đường Xuân Thủy - Phạm Văn Đồng về hướng huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Sau khi đâm cháu Mh, H làm rơi con dao ở tay trái xuống đất, trên tay phải vẫn cầm con dao thứ hai. Sau khi chiếm đoạt được chiếc xe máy của cháu M, H để con dao ở chỗ để chân xe. Trên đường đi, H đã làm rơi con dao, mũ, khẩu trang. H mở cốp xe ra kiểm tra thấy bên trong có 01 khóa hình chữ U, 01 áo mưa màu xanh, 01 áo vải hoa, 01 BKS xe, 03 gương xe máy. Khi đến địa phận xã Tân Nguyên, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tối cùng ngày, Trịnh Văn H đã đến Công an xã Tân Nguyên, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đầu thú.

Ngày 14/3/2021, Công an huyện Yên Bình đã bàn giao Trịnh Văn H cùng toàn bộ tài sản thu giữ cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Cầu Giấy để điều tra theo thẩm quyền.

Sau khi sự việc xảy ra, cháu Mạnh được đưa đến Bệnh viện E cấp cứu, cháu Đỗ Thị Minh H2, anh Nguyễn Quang B là bố của cháu M đã đến Công an quận Cầu Giấy trình báo.

Tang vật vụ án thu giữ:

-Thu giữ của Trịnh Văn H: 01 xe máy hiệu Vision màu xanh, không có gương chiếu hậu, không biển kiểm soát, số khung: 791778, số máy 0838914; 01 biển kiểm soát 19H1-197.02; 03 chiếc gương xe mô tô, 01 chiếc áo vải nhiều họa tiết, hoa văn, 01 áo mưa màu xanh, 01 khóa hình chữ U bằng kim loại, màu xanh trắng, 01 áo phông màu trắng không cổ, cộc tay trên áo có họa tiết, 01 quần đùi màu đen, 01 đôi dép tổ ong.

-Thu giữ của cháu Đỗ Thị Minh H2: 01 xe máy hiệu Honda Wave Anpha màu xanh, số khung 220782, số máy 1558637 BKS 29L5-437.27.

-Thu giữ của chị Thái Thị Bích L: 01 đăng ký xe máy mang tên Đinh Thị B2.

Theo Kết luận định giá tài sản số 108/TCKH-BBĐGHĐ ngày 15/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Cầu Giấy kết luận:

+ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc BKS 29L5-437.27 trị giá: 17.150.000 đồng.

+ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ đen BKS 19H1-197.02 trị giá: 23.450.000 đồng.

Tổng cộng: 40.600.000 (Bốn mươi triệu sáu trăm nghìn) đồng.

Theo Bản kết luận sơ bộ giám định pháp y thương tích số 416/TTPY ngày 14/4/2021 của Trung tâm pháp y, Sở y tế Hà Nội, kết luận thương tích của cháu Nguyễn Quang M như sau:

+ 01 vết thương vùng ngực phải: 02%;

+ 01 vế dẫn lưu vùng khoang liên sườn V đường nách trước: 01%

+ Tràn khí tràn dịch màng phổi phải: 03%.

+ Tổn thương nhu mô phổi phải: 06%.

+ Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng và biến chứng của các tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau nếu có căn cứ.

+ Nhiều khả năng các thương tích do vật sắc nhọn gây nên

Tổng tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 12%. (Mười hai phần trăm)

Không đồng ý với kết luận trên. Ngày 05/5/2021, anh Nguyễn Quang B, là bố cháu M có Đơn đề nghị Viện khoa học kỹ thuật hình sự, Bộ công an giám định lại thương tật của cháu M.

Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 3520/C09-TT1 ngày 13/5/2021 của Viện khoa học hình sự, Bộ công an kết luận thương tích của cháu Nguyễn Quang M như sau:

Tỷ lệ phần trăm tổn thƣơng cơ thể:

+ Sẹo vết thương vùng ngực phải, kích thước trung bình: 02% (Áp dụng nguyên tắc 1 và mục I.2, chương 8)

+ Sẹo dẫn lưu vùng ngực phải, kích thước trung bình: 02% (Áp dụng nguyên tắc 1,3 và mục I.2, chương 8)

+ Tổn thương màng phổi bên phải đã phẫu thuật, không để lại di chứng: 03% (Áp dụng III.1, chương 3)

+ Tổn thương nhu mô phổi phải đã phẫu thuật, không để lại di chứng 06% (Áp dụng Mục IV.1, chương 3).

Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ y tế, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Quang Mạnh tại thời điểm giám định là: 12% (Mười hai phần trăm).

Cơ chế hình thành thƣơng tích: Tổn thương thấu ngực phải của anh Nguyễn Quang M do vật sắc nhọn gây ra.

Quá trình điều tra, Trịnh Văn H có biểu hiện mắc bệnh tâm thần. Ngày 08/7/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Cầu Giấy đã ra Quyết định trưng cầu Viện pháp y tâm thần Trung ương giám định tâm thần đối với Trịnh Văn H.

Kết luận giám định số: 369/KLGĐ ngày 17/11/2021 của Viện pháp y tâm thần Trung ương, Bộ Y tế kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị can Trịnh Văn H bị bệnh rối loạn thần cấp đa dạng không có các triệu chứng của tâm thần phân liệt. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F23.0.

Tại thời điểm phạm tội bệnh ở giai đoạn thuyên giảm, bị can bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại thời điểm giám định bệnh ở giai đoạn ổn định, bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Văn H khai nhận hành vi dùng vũ lực với mục đích để chiếm đoạt tài sản của cháu H2, dùng dao đâm cháu M để chiếm đoạt chiếc xe máy.

Đối với chiếc xe máy Honda Vision màu xanh BKS 19H1-197.02 do cháu Nguyễn Quang M sử dụng. Tra cứu chiếc xe mang tên chị Đinh Thị B1. Chị B1 khai chị mua chiếc xe trên tháng 5/2018 sau đó cho một nam thanh niên tên Trần Bảo N (không rõ lai lịch) mượn nhưng đã chiếm đoạt chiếc xe của chị. Sự việc đã được chị trình báo tại Công an phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội nhưng chị không có tài liệu xuất trình về sự việc trình báo này. Xác minh tại Công an phường Đại Kim và Đội cảnh sát điều tra tổng hợp công an quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội thì hai đơn vị không nhận được đơn thư trình báo nào của chị Đinh Thị B1. Cháu M khai mượn chiếc xe trên của cháu Nguyễn Gia C, (sinh năm 2004, HKTT: Tiểu khu 20, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La). Cháu C khai chiếc xe trên của người quen là bà Trần Thị Thái L gửi tại nhà C. Bà L khai bà mua chiếc xe trên tháng 6/2019 của một người không quen biết tên là T5 (không xác định được lai lịch), việc mua bán không có giấy tờ xe, bà còn giữ giấy đăng ký xe máy mang tên Đinh Thị B1 và giao nộp cho cơ quan công an. Chị Đinh Thị B1 không có yêu cầu nhận lại xe và đồng ý đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng trả chiếc xe cho bà Trần Thị Thái L, chị không có ý kiến thắc mắc gì. Bà Trần Thị Thái L đề nghị được nhận lại chiếc xe để làm phương tiện đi lại.

Đối với chiếc xe Honda Wave màu xanh ngọc, BKS 29L5-437.27 thu giữ của cháu Đỗ Thị Minh H2. Tra cứu chủ sở hữu chiếc xe trên là chị Nguyễn Thị T2, là mẹ cháu H2. Ngày 08/10/2021, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T2 chiếc xe trên.

Các tài sản gồm: 03 chiếc gương xe mô tô, 02 chiếc áo mưa, 01 khóa hình chữ U kim loại màu xanh trắng là tài sản của cháu Nguyễn Gia C. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại cho cháu C.

Đối với 01 con dao, 01 chiếc quần màu đen, 01 áo phông màu trắng, 01 đôi dép tổ ong thu giữ, quá trình điều tra xác định là của Trịnh Văn H, là hung khí H sử dụng vào việc phạm tội và bộ quần áo H mặc tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội.

Ngày 08/10/2021, Công an quận Cầu Giấy đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Quang M về hành vi điều khiển xe máy không có giấy phép lái xe, không đội mũ bảo hiểm, chở người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm, chở theo 02 người trên xe, vi phạm các quy định tại các điểm a khoản 5 điều 21; điểm i, k, l khoản 2 điều 6. Xử phạt đối với Nguyễn Đình Hải N, Đỗ Ngọc T4 về hành vi không đội mũ bảo hiểm đối với người đi xe mô tô theo quy định tại điểm i khoản 2 điều 6. Xử phạt vi phạm hành chính đối với Đỗ Thị Minh H2 về hành vi điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe theo quy định tại điểm i khoản 2 điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

Về dân sự: Tại cơ quan điều tra, anh Nguyễn Quang B là người đại diện cho cháu Nguyễn Quang M yêu cầu Trịnh Văn H bồi thường số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng bao gồm chi phí viện phí, tiền thuốc điều trị là 7.364.000 đồng, chi phí bồi thường do mất thu nhập của anh Nguyễn Quang B là người chăm sóc cho cháu trong 01 tuần là 7.000.000 đồng còn lại là chi phí bồi thường tổn thất về tinh thần là 88.684.000 đồng. Tại phiên tòa, anh B thay đổi mức yêu cầu bồi thường, anh B đề nghị bị cáo bồi thường cho cháu M số tiền tương ứng với 23 tháng lương tối thiểu vùng là 101.660.000 đồng.

Gia đình cháu Đỗ Thị Minh H2 không có yêu cầu bồi thường về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 323/CT-VKSCG ngày 05/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố Trịnh Văn H về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại các điểm c, d, e khoản 2 điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c, d, e khoản 2 điều 168; điều 38; điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trịnh Văn H từ 08 đến 09 năm tù.

Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về phần dân sự: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 28/4/2004 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân tối cao hướng dẫn áp dụng quy định của bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; khoản 2 điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường của người đại diện cho người bị hại Nguyễn Quang M, buộc bị cáo bồi thường số tiền viện phí và thuốc điều trị là 7.364.000 đồng, tiền mất thu nhập của người chăm sóc là 7.000.000 đồng và tiền bồi thường tổn thất tinh thần tương ứng với 30 tháng lương cơ sở là 44.700.000 đồng, tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho cháu M là 59.064.000 đồng

Đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận của chị Đinh Thị B1 và chị Trần Thị Thái L, trả lại chiếc xe máy Honda Vision BKS 19H1-197.02, 01 chiếc biển kiểm soát 19H1-197.02 và 01 đăng ký xe máy mang tên Đinh Thị B1 cho chị Trần Thị Thái L.

Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao, 01 chiếc quần sooc màu đen, 01 áo phông màu trắng, 01 đôi dép tổ ong thu giữ của bị cáo do là công cụ, phương tiện phạm tội và không còn giá trị sử dụng.

Tại phiên tòa bị cáo Trịnh Văn H khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Về phần dân sự, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử quyết định mức bồi thường. Bố của bị cáo là ông Trịnh Xuân H1 trình bày ông đã thay mặt bị cáo nộp số tiền 20.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy để khắc phục, bồi thường phần nào thiệt hại cho cháu M, ông H1 mong gia đình cháu M xem xét hoàn cảnh gia đình của ông và bị cáo để xem xét giảm nhẹ mức yêu cầu bồi thường. Ông H1 đã xuất trình Biên lai thu tiền số 0013542 ngày 30/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, q, s khoản 1 điều 51, điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo hướng dưới khung hình phạt. Đề nghị áp dụng mức bồi thường dân sự theo đúng quy định của pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và người đại diện cho cháu Nguyễn Quang M không có ý kiến gì về mức đề xuất hình phạt của đại diện Viện kiểm sát, không đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo. Về phần dân sự, đồng ý với mức đề xuất bồi thường dân sự của đại diện Viện kiểm sát đưa ra.

Người bị hại và người đại diện cho cháu Đỗ Thị Minh H2; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Cầu Giấy, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những lời khai của bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 11 giờ 20 phút ngày 13/3/2021 tại khu vực trước tòa nhà 170A đường Nguyễn Phong Sắc, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, Trịnh Văn H đã có hành vi đe dọa dùng vũ lực đối với cháu Đỗ Thị Minh H2 nhằm mục đích chiếm đoạt chiếc xe máy Honda Wave Anpha màu xanh, BKS: 29L5-437.27, trị giá 17.150.000 đồng. Cùng thời điểm, tại phía trước cửa hàng bán xăng đường Nguyễn Phong Sắc, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, Trịnh Văn H tiếp tục có hành vi dùng dao đâm, gây thương tích tỷ lệ 12% cho cháu Nguyễn Quang M nhằm mục đích chiếm đoạt chiếc xe máy Honda Vision BKS: 19H1-197.02, trị giá 23.450.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 40.600.000 (Bốn mươi triệu sáu trăm nghìn) đồng.

Bị cáo sử dụng con dao là phương tiện nguy hiểm để nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, thực hiện hành vi cướp tài sản đối với cháu H2 là người dưới 16 tuổi và đã gây thương tích cho cháu M tỷ lệ tổn thương cơ thể 12%. Đây là các tình tiết định khung quy định tại các điểm c, d, e khoản 2 điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Cướp tài sản. Tội danh và hình phạt quy định tại điểm c, d, e khoản 2 điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho nhân dân tại địa phương, làm mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo đã gây ra hành vi phạm tội có tính chất nghiêm trọng. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù giam nghiêm khắc nhằm mục đích răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn, hối cải. Theo kết luận giám định tâm thần thì tại thời điểm phạm tội bị cáo bị bệnh hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện khắc phục hậu quả bằng việc nộp số tiền 20.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, mặc dù không đáp ứng yêu cầu bồi thường của gia đình cháu Mạnh nhưng cũng thể hiện ý thức mong muốn được khắc phục hậu quả của bị cáo nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s, q khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo đã ra đầu thú tại cơ quan công an. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt nên cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về trách nhiệm dân sự: Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của gia đình cháu Nguyễn Quang M thấy: bị cáo Trịnh Văn H đã dùng hung khí là con dao đâm cháu M, gây tỷ lệ thương tích 12% cho cháu, căn cứ khoản 1 điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường. Đối với yêu cầu bồi thường là tiền viện phí, tiền thuốc điều trị cho cháu M và chi phí phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc mà người đại diện cho cháu M đưa ra Hội đồng xét xử xét thấy đối chiếu với các tài liệu, chứng từ xuất trình và thực tế thiệt hại thì mức yêu cầu là phù hợp và có căn cứ chấp nhận theo quy định tại điểm a, c khoản 1 điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015. Về yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần cho cháu M, Hội đồng xét xử thấy, người đại diện cho cháu M yêu cầu bồi thường số tiền tương đương với 23 tháng lương tối thiểu vùng. Đối chiếu với quy định tại khoản 2 điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 thì mức bồi thường tổn thất tinh thần không được vượt quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Theo quy định tại khoản 1 điều 3 Nghị quyết số 34 ngày 13/11/2021 của Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước thì mức lương cơ sở tại thời điểm xét xử là 1.490.000 đồng. Như vậy, mức yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần của gia đình cháu M đang vượt quá mức quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thấy mức đề xuất bồi thường tổn thất tinh thần của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy là có căn cứ và phù hợp với thực tế tổn thất của cháu M nên chấp nhận. Như vậy, xác định tổng số tiền bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho cháu Nguyễn Quang M là 59.064.000 đồng, được trừ vào số tiền 20.000.000 đồng mà bố của bị cáo nộp thay tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Bị cáo Trịnh Quang H còn phải tiếp tục bồi thường số tiền còn thiếu cho cháu Nguyễn Quang M là 39.064.000 đồng. Cháu Nguyễn Quang M và người đại diện cho cháu M được nhận số tiền bồi thường 20.000.000 đồng đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy số tài sản thu giữ của bị cáo gồm 01 con dao, 01 chiếc quần sooc màu đen, 01 áo phông màu trắng, 01 đôi dép tổ ong do là công cụ phạm tội và không còn giá trị sử dụng.

- Trả lại cho chị Trần Thị Thái L chiếc xe máy Honda Vision BKS 19H1-197.02; 01 biển kiểm soát 19H1-197.02 và 01 đăng ký xe máy mang tên Đinh Thị B1.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn H phạm tội “Cƣớp tài sản”

Căn cứ điểm c, d, e khoản 2 điều 168; điều 38; điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ khoản 1 điều 584; điểm a, c khoản 1, khoản 2 điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015.

Xử phạt : Trịnh Văn H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đầu thú 13/3/2021.

Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng đối với bị cáo.

* Về dân sự: Bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho cháu Nguyễn Quang M số tiền là 59.064.000 đồng (năm mươi chín triệu không trăm sáu mươi tư nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền bồi thường 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội theo Biên lai thu tiền số 0013542 ngày 30/3/2022. Bị cáo Trịnh Văn H còn phải có nghĩa vụ bồi thường cho cháu Nguyễn Quang M số tiền là 39.064.000 (ba mươi chín triệu không trăm sáu mươi tư nghìn) đồng.

Cháu Nguyễn Quang M và người đại diện của cháu M được nhận số tiền bị cáo bồi thường là 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng theo Biên lai thu tiền số 0013542 ngày 30/3/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

- Tịch thu, tiêu hủy của bị cáo 01 con dao dài 26 cm, bản rộng 03 cm, lưỡi dao bằng kim loại đầu nhọn, cán dao bằng nhựa màu đen đã qua sử dụng; 01 quần sooc màu đen đã qua sử dụng; 01 áo phông màu trắng cộc tay đã qua sử dụng; 01 đôi dép tổ ong đã qua sử dụng.

- Trả lại cho chị Trần Thị Thái L 01 chiếc xe máy (xe máy có Biển kiểm soát 19H1-197.02) nhãn hiệu HONDA, số loại: VISION, màu đen đỏ, loại xe 02 bánh từ 50-175cm3, số khung hiện tại RLHJF5815GY791778 và số máy hiện tại JF66E-0838914 là số nguyên thủy và 01 biển kiểm soát số 19H1-197.02.

Hiện các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy theo Biên bản giao nhận vật chứng số 103 GN/THA-CA ngày 07/1/2022.

- Trả lại cho chị Trần Thị Thái L 01 đăng ký xe máy, tên chủ xe Đinh Thị B1. Hiện giấy đăng ký xe máy lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

* Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Mục I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án năm 2009; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 3/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 2.953.000 (hai triệu chín trăm năm mươi ba nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người đại diện của người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại Nguyễn Quang Mạnh có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người bị hại trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người đại diện cho người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

Cỡ chữ