- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2022/HS-ST Ngày 28 - 9 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Thung.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Xuân Thuỳ;
Ông Trần Đình Phấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tùng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Khổng Thị Tươi - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 62/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân H, sinh ngày 14/9/1985; nơi cư trú: Xóm 10, xã XP, huyện XT, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1962 và bà Bùi Thị S (đã chết); có vợ là Đào Thị Thuỳ L (đã ly hôn); có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 21/01/2016, bị Toà án nhân dân huyện Xuân Trường xử phạt 18 tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”; bị tạm giữ từ ngày 20/7/2022 đến ngày 29/7/2022 chuyển tạm giam cho đến nay; “có mặt”.
- Bị hại: Anh Nguyễn Công H, sinh năm 1975; địa chỉ: Xóm 10, xã XN, huyện XT, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Nhật L, sinh năm 1996; địa chỉ: Xóm 10, xã XP, huyện XT, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 20/7/2022, Nguyễn Xuân H mượn xe mô tô biển kiểm soát 18Z5-7744 của em trai là Nguyễn Nhật L nói là đi có việc nhưng mục đích là đi lang thang tìm sơ hở của người dân để trộm cắp tài sản, bán đi lấy tiền chi tiêu. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, H đi đến cổng nhà anh Nguyễn Công H thuộc xóm 10, xã XN, huyện XT, H phát hiện bên lề đường có để nhiều máy cày, máy gặt và nhiều phụ kiện máy nông nghiệp, trong đó có 01 bộ khung giàn cày 05 lưỡi (phay) bằng kim loại nặng khoảng 55kg, sơn màu đỏ dùng để sử dụng cho máy cày nông nghiệp của anh H. Quan sát không thấy có người trông coi, H xuống xe bê bộ khung giàn cày để lên yên xe rồi điều khiển xe đi tìm nơi tiêu thụ. Khi đi được 300m thì bị anh H phát hiện đuổi theo kịp và giữ H lại rồi trình báo công an xã XN.
Công an xã XN tiến hành lập biên bản tiếp nhận người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ khung giàn cày H vừa chiếm đoạt của anh H cùng chiếc xe mô tô do H điều khiển và bàn giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Trường giải quyết theo thẩm quyền.
Tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Xuân H, Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 89/KL-HĐĐG ngày 25/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Xuân Trường kết luận: 01 khung giàn cày bằng kim loại, loại 05 lưỡi (phay), sơn màu đỏ có trong lượng 55kg, sử dụng cho máy cày nông nghiệp, đã qua sử dụng, tại thời điểm chiếm đoạt có giá trị thành tiền là 4.000.000 đồng.
Cáo trạng số 61/CT-VKSXT ngày 06/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố hành vi của Nguyễn Xuân H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ L Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ L Hình sự;
+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H từ 15 đến 18 tù.
+ Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;
- Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 18Z5-7744 cho anh Nguyễn Nhật L.
- Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Công H đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” như nội dung vụ án đã nêu, bị cáo công nhận Viện kiểm sát đã truy tố đúng hành vi phạm tội của mình. Trong lời nói sau cùng, bị cáo thực sự ăn năn, hối lỗi mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Trường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ L Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc kết tội: Hành vi của bị cáo như đã khai nhận tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20/7/2022, tại xóm 10, xã XN, huyện XT, tỉnh Nam Định, Nguyễn Xuân H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 khung giàn cày bằng kim loại có trọng lượng 55kg trị giá 4.000.000đ của anh Phạm Công H. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ L Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố là có căn cứ.
Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi “Trộm cắp tài sản” của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác là khách thể được pháp L hình sự bảo vệ. Bị cáo đang trong độ tuổi lao động, không chịu khó làm ăn, bị cáo đã từng bị kết án về hành vi vận chuyển hàng cấm nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác để lấy tiền chi tiêu cho bản thân nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp L hình sự.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về việc làm của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ L Hình sự.
Về hình phạt: Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.
Do bị cáo Nguyễn Xuân H không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ L Hình sự.
Về vật chứng và tài sản thu giữ: Đối với chiếc xe mô tô BKS 18Z5-7744, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Trường đã tiến hành điều tra, xác minh, xác định đây là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Nhật L, là em trai bị cáo. Anh L không biết việc H sử dụng chiếc xe mô tô trên vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử sẽ trả lại cho anh L là phù hợp.
Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Phạm Công H 01 bộ khung giàn cày. Anh H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp L.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ L Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 của Bộ L Hình sự; điểm c khoản 3 Điều 106 của Bộ L Tố tụng hình sự;
- Trả lại cho anh Nguyễn Nhật L 01 xe mô tô biển kiểm soát 18Z5-7744, trên thân xe ghi chữ HONDA DREAM II, nốc máy ghi chữ LONCIN, xe đã cũ.
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 90/CCTHA lập ngày 21/9/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Trường và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).
3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ L Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Xuân H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 L Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 L Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Xuân Trường; - Chi cục THADS huyện Xuân Trường; - Công an huyện Xuân Trường; - UBND xã XP; - Bị cáo, bị hại, người có QLNVLQ; - Hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Thung |