- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Lê Văn Q và đồng phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? điểm g, khoản 1, Điều 52 ; Điều 65 Bộ luật H ình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật H ình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng H ình sự; Điều 17 Bộ luật H ình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H À TRUNG TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2022/HS -ST Ngày: 25-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯ ỚC CỘNG HO
À XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H À TRUNG, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà: Bà Trịnh Thanh H ương.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Đặng Th ành Trung;
- Ông Nguyễn Bảo Tr ung.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Th ư - Thư k ý Tòa án, Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức S ơn và b à Lại Thị Hồng
- Kiểm sát vi ên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2022 tại Hội tr ư ờng xét xử T òa án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử s ơ th ẩm công khai vụ án h ình sự s ơ th ẩm thụ lý số 58/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2022, theo quyết định đ ưa v ụ án ra xét xử số 70/2022/QĐXXST - HS ngày 12/8/2022 đối với các bị cáo:
1. Lê Văn Q; sinh năm 1999; tại x ã H, huyện H, tỉnh T ; trú tại: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh T ; nghề nghiệp: Lao động tự do ; trình độ văn hoá: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông L
ê Văn L và bà Lê Thị V ; bị cáo chưa có v ợ con; tiền án, tiền sự: không.
Tạm giữ: Bị cáo bị tạm giữ từ ng
ày 12/3/2022 đến ng ày 21/3/2022.
Tạm giam: Không.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phi
ên tòa.
2. Ngô Thị Khánh L ; sinh năm 2000; tại x ã H, huyện H, tỉnh T ; trú tại: Thôn V, xã H, huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do
; trình độ văn hoá: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Thế Ư và bà Ngô Thị N ; bị cáo có 01 con; tiền án, tiền sự: không.
Tạm giữ: Bị cá o bị tạm giữ từ ng
ày 11/3/2022 đến ng ày 20/3/2022.
Tạm giam: Không.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phi
ên tòa.
Bị hại: - Chị Trần Thị Thúy H , sinh năm 1996; nơi cư trú: thôn
V, xã H, huyện H , tỉnh T , vắng mặt .
- Chị Phạm Thị Hải U , sinh năm 1999; nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện H , tỉnh T, vắng mặt .
Ngư ời có quyền lợi nghĩa vụ li
ên quan: Chị Vũ Thị H ; sinh năm: 1975; nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện H , tỉnh T , vắng m ặt .
Ngư ời làm chứng: Anh Lê Anh Q, sinh năm 2003; trú tại: x ã H, huyện H, tỉnh T, vắng mặt .
- Chị Nguyễn Thị T h, sinh năm 1998; trú tại: thôn V , xã H, huyện H , tỉnh T , vắng mặt .
- Chị Đinh Khánh H , sinh năm 2000; trú tại: thôn V , xã H, huyện H , tỉ nh T, vắng mặt .
- Chị Nguyễn Thị Tr , sinh năm 1996; trú tại: thôn V , xã H, huyện H , tỉnh T , vắng mặt .
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ s ơ vụ án v à diễn biến tại phi ên tòa, nội dung vụ án đư ợc tóm tắt nh ư sau:
Khoảng cuối tháng 2 năm 2022 , Lê Văn Q tìm hiểu tr ên mạng x ã hội Facebook hình thức nhắn tin giả mạo qua Facebook cho ng
ư ời khác để vay tiền rồi chiếm đoạt t ài sản. Do cần tiền để t iêu xài cá nhân nên ngày 24/2/2022, Lê Văn Q bàn với Ngô Thị Khánh L lập nick Facebook giả mạo để nhắn tin cho ng ư ời khác vay tiền rồi chiếm đoạt t
ài sản th ì L đồng ý v à nói “để em kiếm sim điện thoại mới để đăng ký t ài khoản” . Sau đó, L đi mua một sim điện thoại của nh à mạng Viettell. Đến tối c ùng ngày, Q đón L đi ăn tối tại thị x ã Bỉm S ơn, khi đang ăn thì L đưa cho Q 01 sim điện thoại Viettell v à 01 điện thoại di động nh ãn hiệu OPPO A9 m àu xanh đen để đăng ký t ài khoản Facebook. Q hỏi L “bây giờ sử dụng t
ài khoản Facebook nào” thì L nói dùng Facebook “Đinh Thị Khánh H ”, giống t ài khoản Facebook của chị Đinh Khánh H , sinh năm 2000, trú tại thôn V , xã H, huyện H , tỉnh T . Để tạo niềm tin,
Q vào trang cá nhân tài khoản Facebook thật của chị H
, lấy ảnh đại diện thay v ào Facebook giả rồi gửi lời mời kết bạn với t
ài khoản Facebook có tên “Hằn g Em” của ch ị Trần Thị Thúy H , sinh năm 1996, trú tại thôn V , xã H, huyện H , tỉnh T . Khi chị H kết bạn , Q và L thay nhau nhắn tin đến t ài khoản Facebook của chị H hỏi vay tiền , chị H tin tư ởng ng ư ời vay tiền là chị H (chị họ của m ình) nên đã đồng ý và bảo L nhắn t ài khoản ngân h àng để chuyển tiền. Để tránh bị phát hiện, Ngô Thị Khánh L đã mư ợn số t ài khoản : 030033560962 tại ngân hàng Sacombank của chị Nguyễn Thị Th
sinh năm 1998, trú tại thôn V , xã H, huyện H (là chị dâu của Q ) rồi gửi cho chị H . Chị H đã chuyển số tiền 2.200.000 đồng v ào tài khoản của chị Th , sau đó chị Th đã chuyển lại cho L theo số t ài khoản 03004833915 tại ngân hàng Sacombank, chủ t ài khoản l à Ngô Thị Khánh L , nhận đư ợc tiền, Q và L ra về .
Về đến nh à, Ngô Thị Khánh L đổi t ên Fcacebook giả mạo từ “Đinh Thị
Khánh H” thành “Trang Chít” của chị Nguyễn Thị Tr , sinh năm 1996, trú tại thôn V, xã H, huyện H , tỉnh T . L vào trang cá nhân tài khoản Facebook thật của chị Tr lấy ảnh đại diện thay v
ào tài khoản Facebook giả rồi nhắn t
in gửi lời mời kết bạn đến t ài khoản Facebook “Uy ên Cận” của chị Phạm Thị Hải U
, sinh năm 1999, trú tại thôn V , xã H, huyện H , tỉnh T , lúc này chị U nghĩ đây l à tài khoản Facebo ok thật của chị N guyễn Thị Tr là bạn học c ấp hai nên đồng ý kết bạn. Biết chị U
làm nghề dịc h vụ chuyển tiền tính phí n ên L dùng tài khoản Facebook gi ả “Trang Chít” nhắn cho chị U nhờ chuyển cho em trai Ly 5.000.000 đồ
ng. Do lo sợ bị lừa n ên chị U gọi video lại cho L để xác nhận thông t in thì L nói có mẹ chồng b ên cạnh n ên từ chối nghe máy, rồi v ào lại t ài khoản Facebook thật của chị Tr
, lấy ảnh con trai chị Tr gửi cho chị U để l àm tin. Thấy vậy, chị U tin tư ởng n ên đồng ý v à bảo L gửi số tài khoản để chuyển tiền. Biết đ
ã lừa đ ư ợc chị U nên L nhắn tin bảo Q mư ợn số t ài khoản , Q sử dụng t ài khoản Facebook của m ình là “Quốc Quốc L ê” nhắn tin đến tài khoản Facebo ok “Quân Ca” của anh L ê Anh Q mư ợn t ài khoản ngân h àng. Đư ợc anh Q đồng ý v à gửi cho Q số t ài khoản 100873004650 tại ngân h àng Vietinbank, chủ t ài khoản L ê Anh Q nên Q đã chuyển lại cho L để chuyển cho chị U. Sau khi nhậ n đư ợc số t ài khoản ngân h àng L gửi, chị U đã nhờ mẹ chồng l
à Vũ Thị H , sinh năm 1975, trú tại thô n V, xã H, huyện H chuyển cho L số tiền 5.000.000đ từ t ài khoản 3506215012580 tại ngân h àng Agribank, chủ t ài khoản Vũ Thị H đến t ài khoản L ê Anh Q. Sau đó, anh Q đã chuyển to àn bộ số tiền tr
ên đến tài khoản 030048303915 tại ngân h àng Sacombanhk mang tên Ngô Thị Khánh L theo yêu cầu của Q . Sau khi nhận đ ư ợc tiền, Q sợ bị phát hiện n ên đã yêu cầu anh Q khóa tài khoản nh ưng anh Q không đồng ý.
Đến ngày 11/3/2022, Ngô Thị Khánh L đến Công an x ã Hoạt Giang, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đầu thú, khai nhận to àn bộ h ành vi phạm tội của m
ình. Ngày 12/3/2022, Cơ quan C ảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung ra lệnh giữ ngư ời trong tr ư ờng hợp khẩn cấp đối với L
ê Văn Q.
Vật chứng thu giữ gồm
: 01 thẻ Ngân h àng Sacombank, số t ài khoản 030048303915, chủ tại khoảng mang t ên Ngô Thị Khánh L ; 01 (một) chiếc điện thoại di động nh ãn hiệu OPPO A9 màu xanh đen đã qua sử dụng
của Ngô Thị Khánh L; 01 điện thoại di động nh ãn hiệu Iphone 6 màu vàng gold, số IMEI 35510078113190, lắ p sim số 0386701083 của L ê Văn Q.
Đối với chiếc sim đ
iện thoại mà Q và L sử dụng để lập t
ài khoản Facebook giả, sau khi bị phát hiện,
Ngô Thị Khánh L đã ném vào nhà vệ sinh của gia đ ình mình và xả n ư ớc trôi đi n ên Cơ quan điều tra Công an huyện H à trung không thu hồi đ ư ợc .
Kết quả sao k ê tài khoản của Ngô Thị Khánh L
thể hiện: ng ày 24/2/2022 Nguyễn Thị Thảo chuyển đế
n tài khoản của Ngô Thị Khánh L
số ti ền 2.200.000 đồng v à Lê Anh Q chuyển đến cho Ngô Thị Khánh
L số tiền 5.000.000 đồng. Ngoài ra còn có các tài khoản của Vũ Văn T
chuyển đến tài khoản của L số tiền 155.000 đồng, Ngô Văn T chuyển đến t ài khoản của L số t iền 2.000.000 đồng, Lý Tiến D chuyển đến t ài khoản của Ly số tiền 3.000.000 đồng v
à Huỳnh T hị Th chuyển đến t ài khoản của Ly số tiền 3.000.000 đồng.
Cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 03/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện
Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đ ã truy tố các bị cáo Lê Văn Q, Ngô Thị Khánh L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt
tài sản” theo khoản 1 , Điều 17 4 Bộ luật H ình sự năm 2015.
Tại phi ên tòa, các bị cáo thừa nhận h ành vi như cáo tr ạng đ ã truy tố . Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H à Trung giữ nguy ên quyết định truy tố v à đề nghị áp dụng khoản 1, Điều 17 4; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều
51; Điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 65 Bộ luật H ình sự, xử phạt bị cáo
Lê Văn Q từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hư ởng án treo, thời gian thử thách từ
18 tháng đến 24 tháng; xử phạt bị cáo Ngô Thị Khánh L từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hư ởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Về bồi th ư ờng dân sự: T ài sản đ ã đư ợc trả lại cho bị hại, ng ư ời có quyền lợi nghĩa vụ li
ên quan. Bị hại v à ngư ời có quyền lợi nghĩa vụ li ên quan không có yêu cầu g ì thêm nên miễn xét ; về vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nh à nư ớc 01 điện thoại
động nh ãn hiệu OPPO A9 màu xanh, 01 điện thoại di động nh ãn hiệu Iphone 6 màu vàng gold; buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA T
ÒA ÁN:
Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc tranh tụng tại phi ên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh
ư sau:
[1]. Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo không có khiếu nại về h
ành vi tố tụng, quyết định tố tụng của ng
ư ời tiến h ành tố tụng v à cơ q uan tiến h ành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của ng
ư ời tiến h ành tố tụng, c ơ quan ti ến hành tố tụng đ ã thực hiện đúng với tr
ình tự, thủ tục, thẩm quyền v
à hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng h
ình sự.
[2]. Lời khai của các bị cáo tạ i phiên toà phù hợp với lời khai của
các bị cáo ở giai đoạn điều tra, ph ù hợp với lời khai của bị hại,
ngư ời có quyền lợi nghĩa vụ li
ên quan phù hợp với vật chứng thu giữ đ
ư ợc, đủ c ơ s ở khẳng định:
ngày tố i ngày 24/2/2022, tạ i xã H, huyệ n H, tỉ nh T, Lê Văn Q và Ngô Thị Khánh L đã có hành vi gian dố i, lậ p tài khoả n Facebook giả mạ o, chiế m đoạ t củ a chị Trầ n Thị Thúy H số tiề n 2.200.000 đồ ng và củ a chị Phạ m Thị Hả i U số tiề n 5.000.000 đồ ng. Tổ ng số tiề n các bị cáo chiế m đoạ t là 7.200.000 đồ ng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện H à Trung truy tố các bị cáo về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt
tài sản” theo khoản 1, Điều 17 4 Bộ luật H ình sự l à đúng ngư ời, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo l à nguy hiểm cho x ã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu t
ài sản của ng ư ời khác, l àm mất trật tự trị an tr
ên địa b àn huyện. Vì vậy phải áp dụng hình phạt t ương x ứng với tính chất, mức độ của h
ành vi phạm tội của từng bị cáo để răn đe, ph òng ngừa chung.
Đây là vụ án đồng phạm giản đ
ơn, trong đó Lê Văn Q là ngư ời khởi x ư ớng nên giữ vai tr ò chính. Ngô Thị Khánh L là ngư ời thự c hành tích cực , cả hai lần thự c hiện h ành vi phạm tội L là ngư ời trực tiếp nhắn tin vay tiền, trực tiếp mua sim điện thoại và nhận tiền v ào tài khoản của m ình nên bị cáo L phải chịu trách nhiệm hình sự ngang bằng với bị cáo Q
.
Về t ình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm h ình sự: Các bị cáo L ê Văn Q và Ngô Thị Khánh L phải chịu t ình tiết tăng nặng trách nhiệm h ình sự l à “phạm tội hai lần” quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật h
ình sự và đư ợc h ư ởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm h
ình sự l à thành khẩn khai báo, tự nguyện khắc phục hậu quả , đây là những t ình tiết giảm nhẹ trách nhiệm h
ình sự theo điểm b, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật h ình sự. Bị hại có đ ơn đ ề nghị giảm nhẹ h
ình phạt cho các bị cáo; sau khi phạm tội bị cáo Ngô Thị Khánh
L đã đến công an đầu th ú; bị cáo Lê Văn Q đóng góp cho phong trào phòng chống covid tại địa ph ương , đây đư ợc coi là nhữn g tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm h
ình sự theo khoản 2, Điều 51 Bộ luật h
ình sự.
Các bị cáo đã thành khẩn khai báo , thật sự ăn năn hối cải v
à có nhiều t ình tiết giảm nhẹ trách nhiệm h ình sự , nên không cần thiết phải cách ly khỏi đời sống x
ã hội, chỉ cần áp
dụng h ình phạt t ù cho hư ởng án treo cũng đủ khả năng cải tạo, giáo
dục các bị cáo.
Đối với chị Nguyễn Thị Th và anh Lê Anh Q khi cho Q và L mư ợn t ài khoản ngân hàng để nhận tiền, chị Th
và anh Q không biết các bị c áo sử dụng v ào mục đích phạm tội, n ên không có căn cứ để xử lý chị Th
và anh Q.
Đối với chị Nguy ễn Thị Tr và chị Đinh Khánh H là ngư ời có t ài khoản Facebook bị các bị can giả mạo, tuy nhi
ên chưa b ị thiệt hại g ì, chị Tr , chị H không yêu cầu các bị c áo phải bồi th ư ờng g ì nên miễn xét .
Đối với những giao dịch chuyển tiền cho bị c
áo Ngô Thị Khánh L từ ng ày 24/2/2022 đến ngày 10/3/2022 của Vũ Văn Th , Ngô Văn T và Lý Tiến D , quá trình điều tra xác định đây l à các giao dịch dân sự, kh ông có dấu hiệu của h ành vi chiếm đoạt t ài sản nên không có căn cứ để xử lý
.
Đối với giao dịch chuyển số tiền 3.000.000 đồng của chị Huỳnh Thị
Th ngày 09 và ngày 10/3/2022 đến t ài khoả n ngân hàng của Ngô Thị Khánh L . Quá trình điều tra , chị Huỳnh Thị Th không có mặt tại địa ph ương, không xác đ ịnh đ ư ợc chị Thúy đang ở đâu n ên Cơ quan C ảnh sát điều tra Công an huyện H à Trung tiếp tục điều tra, xác minh , khi có căn cứ sẽ xử lý sau
.
[3]. Về bồi th ư ờng thiệt hại:
Lê Văn Q và Ngô Thị Khánh L đã bồi thư ờng toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho
bị hại l à chị Trần Thị Thúy H và chị Phạm Thị Hải U. Chị H , chị U sau khi nhận lại t ài sản không y êu cầu các bị c áo phải bồi th ư ờng gì thêm, nên miễn xét.
[4]. Về vật chứng:
01 điện thoại di động nh ãn hiệu OPPO A9 màu xanh đen có số IMEII 860028040483299, IMEI2: 860028040483281; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Ịphon 6, m àu vàng gold, số IMEI 355100 78113190, bên trong chứa sim số 0386701083 là công cụ để phạm tội n
ên tịch thu nộp ngân sách Nh à nư ớc; 01 thẻ AT M Ngân hàng Sacombank, số t ài khoản 030048303915 là công cụ phạm tội
, do tài khoản đ ã bị khóa không c òn hoạt động đ ư ợc nên tịch thu ti êu hủy.
[5]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ tr ên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1, Điều 17 4; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51;
điểm g, khoản 1, Điều 52 ; Điều 65 Bộ luật H ình sự năm 2015.
1. Về tội danh: Các bị cáo L ê Văn Q, Ngô Thị Khánh L phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” .
2. Về h ình phạt: Xử phạt bị cáo
Lê Văn Q 09 (chín) tháng tù cho hư ởng án treo, thời gian thử thách l à 18 (mư ời tám ) tháng tính từ ng ày tuyên án sơ th ẩm.
Xử phạt bị cáo Ngô Thị Khánh L
09 (chín) tháng tù cho hư ởng án treo, thời gian thử thách l à 18 (mư ời tám ) tháng tính từ ng ày tuyên án sơ th ẩm.
Giao bị cáo Lê Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H , tỉnh T , giao bị cáo Ngô Thị Khánh L cho Ủy ba n nhân dân xã H, huyện H , tỉnh T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, ngư ời đ ư ợc h ư ởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
hai lần trở l ên thì Tòa án có thể buộc ng ư ời đ ư ợc h ư ởng án treo phải chấp h
ành hình phạt t ù của bản án đ ã cho hư ởng án treo. Tr ư ờng hợp bị cáo đ ư ợc h ư ởng án treo thay đổi n ơi cư trú th ì thực hiện theo quy định
tại khoản 3, Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
3. Về vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nh
à nư ớc: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 m àu xanh đen có số IMEII 860028040483299, IMEI2: 860028040483281; 01 điện thoại di động nh ãn hiệu Ịphon 6, m àu gold, số IMEI 35510078113190, lắ p sim số 0386701083
Tịch thu ti êu hủy: 01 thẻ ATM Ngân h àng Sacombank, số t ài khoản 030048303915.
Đặc điểm của các v ật chứng tịch thu v à vật chứng ti êu hủy nh ư biên b ản giao nhận vật chứng giữa c
ơ quan C ảnh sát điều tra công an huyện H à Trung và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H à Trung ngày 09/8/2022.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng H
ình sự; Điều 6, Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ng
ày 30/12/2016 của Ủy ban thư ờng vụ Quốc hội.
Buộc các bị cáo Lê Văn Q, Ngô Thị Khánh L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự s ơ th ẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày kể từ ng ày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ng ày nhận đ ư ợc bản án hoặc bản án đ
ư ợc tống đạt hợp lệ. Ng
ư ời có quyền lợi nghĩa vụ li
ên quan có quyền kháng cáo bản án phần l iên quan đến quyền và nghĩa vụ của m ình trong hạn 15 ng ày kể từ ng ày nhận đ ư ợc bản án hoặc bản án đư ợc tống đạt hợp lệ.
Trư ờng hợp bản án đ
ư ợc thi h ành theo Điều 2 Luật Thi h ành án Dân sự th ì ngư ời đ ư ợc thi h ành án dân sự, ng ư ời phải thi h ành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền y êu cầu thi h ành án, tự nguyện thi h ành án hoặc bị c ư ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a v à 9 Luật Thi h ành án Dân sự; thời hiệu thi h ành án đư ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h
ành án Dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện H à Trung; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an huyện H à Trung; - Bị cáo; - Bị hại; - Ngư ời có QLNVLQ; - Lưu h ồ s ơ v ụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Các hội thẩm nhân dân Nguyễn Bảo Trung Đặng Th ành Trung | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S Ơ TH ẨM Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà Trịnh Thanh H ương SƠ TH ẨM Thẩm phán - Chủ tọa phi ên tòa Trịnh Thanh H ương |