vanban.org

Bản án 68/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 07/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Thái Văn N, Nguyễn Tuấn H, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Ngọc N phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn H 05 (năm) năm tù. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N 05 (năm) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thái Văn N ̣(đp) phạm tội “Cướp giật tài sản” - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Thái Văn N, Nguyễn Tuấn H, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Ngọc N phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN N DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2022/HS-ST
Ngày: 07 - 7 - 2022

N DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN N DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tho

Các Hội thẩm N dân:

Ông Phạm Duy Thương;

Ông Lê Công Lập.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo – Thư ký Tòa án N dân huyện Đức Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát N dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án N dân huyện Đức Hòa, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Thái Văn N, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2001 tại Đồng Tháp; nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở: số 41 Đỗ T, phường Tân Q, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Văn B, sinh năm 1962 và bà Mai Thị B, sinh năm 1963; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2022 cho đến nay (có mặt).

2. Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 07 tháng 7 năm 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Số 181/17 Đường D, phường Tân Q, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tuấn H, sinh năm 1979 và Phạm thị Ngọc L, sinh năm 1977; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2022 cho đến nay (có mặt).

3. Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 08 tháng 12 năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Số 34/7 Đường Nguyễn Lộ T, phường Tân Q, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1963 và bà Phan Thị T, sinh năm 1971; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2022 cho đến nay (có mặt).

4. Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 06/01/2004 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: số 2/5/5 đường Z, phường Bình Hưng A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Kim X, sinh năm 1981; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2022 cho đến nay (có mặt).

Bị hại:

- Lê Mộng C, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp R, xã Mỹ Hạnh B, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vắng mặt);

- Võ Thị Ngọc T, sinh năm 1999. Địa chỉ: Ấp N, xã Đức Hòa T, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vắng mặt);

- Lê Huỳnh Phương L, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp 2, xã H, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vắng mặt);

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Lý Chí T, sinh năm 1994. Địa chỉ: Số 152E/2 Hưng P, Phường 900, Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);

- Phạm Văn Nhựt T, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp Tân Thành H, xã Tân T, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre (vắng mặt);

- Nguyễn Kim X, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số 2/5/5 đường Z, phường Bình Hưng A, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);

Người làm chứng:

- Nguyễn Thị G, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp M, xã Mỹ Hạnh N, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vắng mặt);

- Trịnh Đình T, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp Tràm L, xã Mỹ Hạnh B, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vắng mặt);

- Lại Quốc T, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp G, xã Mỹ Hạnh N, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ ngày 14/01/2022, Nguyễn Thành Đ cùng với Thái Văn N, Nguyễn Ngọc N và Nguyễn Tuấn H uống cà phê tại quán cà phê không tên tại địa bàn quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh. Trong lúc uống cà phê, cả nhóm rủ nhau cướp giật dây chuyền của phụ nữ điều khiển xe máy trên đường, bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Sau đó, N về phòng trọ lấy 3 bình xịt hơi cay đã mua trước đó để phòng thân, rồi mang các bình xịt hơi cay đến quán cà phê để khi đi giật dây chuyền nếu có người đuổi theo thì dùng bình xịt hơi cay xịt để tẩu thoát. Sau đó, cả nhóm đi trên 2 xe mô tô đến địa bàn huyện Đức Hòa để giật dây chuyền của phụ nữ đi đường, khi đi được khoảng nửa đường thì xe mô tô 59L1-037.74 do H điều khiển bị bể bánh xe nên cả nhóm đi về và giao 3 bình xịt hơi cay cho Đ cất giữ.

Đến tối ngày 17/01/2022, khi đang uống cà phê tại quán cà phê không tên tại quận Tân Phú thì Đ, N, và H rủ nhau 9 giờ sáng ngày 18/01/2022 gặp nhau tại nhà Đ ở phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh để cùng nhau đi giật dây chuyền. Đến khoảng 9 giờ ngày 18/01/2022, N và H đến trước nhà Đ, Đ lấy 3 bình xịt hơi cay kể trên đưa cho N và H 2 bình xịt hơi cay, Đ và N giữ 01 bình xịt hơi cay. Sau đó N điều khiển xe mô tô biển số 59L1-037.74 chở H, Đ điều khiển xe mô tô biển số 66H1-523.68 chở N đến địa bàn huyện Đức Hòa, tỉnh Long An để giật tài sản. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm lưu thông đến đoạn đường thuộc ấp Tràm L, xã Mỹ Hạnh B, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thì phát hiện bà Lê Mộng C đang điều khiển xe mô tô SH Mode màu bạc lưu thông cùng chiều có đeo 01 sợi dây chuyền cùng mặt dây chuyền loại vàng 18K, trọng lượng 4,1 chỉ trên cổ, N điều khiển xe chở H chạy từ phía sau lên ép sát vào bên trái xe của bà C, H ngồi sau dùng tay phải giật sợi dây chuyền của bà C, Đ điều khiển xe chở N chạy sau hỗ trợ N và H tẩu thoát, cả nhóm chạy về hướng vòng xoay Gò Mối rồi rẽ trái về hướng ngã 3 Tua 1.

Khi đến đoạn đường thuộc ấp Nhơn Hòa 0, xã Đức Hòa T, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, cả nhóm phát hiện bà Võ Thị Ngọc T đang điều khiển xe mô tô Vision màu đỏ lưu thông cùng chiều có đeo sợi dây chuyền vàng trên cổ. N điều khiển xe chở H ép sát bên trái xe của bà T để H dùng tay phải giật sợi dây chuyền vàng loại 18K, trọng lượng 3,3 chỉ kèm mặt dây chuyền hình phật loại 18K, trọng lượng 0,26 chỉ của bà T, Đ điều khiển xe chở N chạy phía sau hỗ trợ N và H tẩu thoát, cả nhóm chạy về hướng ngã 3 Tua 1. Lần này, H chỉ giật được một đoạn dây chuyền, sợi dây chuyền bị đứt rơi lại một đoạn ngắn và một mặt dây chuyền hình phật màu xanh.

Sau khi tẩu thoát các đối tượng điều khiển xe về thành phố Hồ Chí Minh, đến đoạn đường tỉnh lộ 825 thuộc ấp B, xã Đức Hòa H, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, các đối tượng phát hiện bà Lê Huỳnh Phương L đang điều khiển xe mô tô Vision màu bạc, biển số 62P1-513.80 lưu thông phía trước cùng chiều có đeo trên cổ một sợi dây chuyền bằng vàng trắng loại 18K, trọng lượng 5,98 chỉ và mặt dây chuyền loại vàng trắng 18K, trọng lượng 2 chỉ. Sau khi phát hiện bà L có đeo dây chuyền, N chở H chạy vượt lên trên bà L để làm nhiệm vụ hỗ trợ, Đ điều khiển xe chở N chạy từ phía sau lên, ép sát vào bên trái xe do bà L điều khiển, N ngồi sau dùng tay phải giật sợi dây chuyền bà L đeo trên cổ, bà L truy hô “cướp, cướp”, cả nhóm tăng ga bỏ chạy và bị lực lượng Công an tuần tra truy đuổi, bắt quả tang tạm giữ người cùng vật chứng vụ án.

Tại Kết luận về định giá tài sản số 10/KL.ĐGTS ngày 26/01/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đức Hòa: 01 sợi dây chuyền loại vàng 18K, trọng lượng 5,98 chỉ trị giá 20.212.400 đồng; 01 mặt dây chuyền loại vàng 18K, trọng lượng 02 chỉ trị giá 6.760.000 đồng; 01 sợi dây chuyền loại vàng 18K, trọng lượng 3,33 chỉ trị giá 11.255.400 đồng; 01 mặt dây chuyền loại vàng 18K, trọng lượng 0,26 chỉ trị giá 878.800 đồng; 01 sợi dây chuyền và mặt dây chuyền loại vàng 18K, trọng lượng 4,1 chỉ trị giá 13.858.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 52.964.600 đồng.

Về vật chứng vụ án:

- 01 sợi dây chuyền 18 kara, dạng ống nối với mắc xích tròn, mặt dây hình bông hoa nhiều cánh có đính đá màu trắng ở giữa và nhiều hạt đá nhỏ xung quanh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Lê Mộng C vào ngày 26/01/2022.

- 01 đoạn dây chuyền 18 kara dạng mắc xích dài 33cm bị hỏng móc ở một đầu, đầu còn lại bị đứt mắc xích. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Võ Thị Ngọc T vào ngày 26/01/2022.

Hiện nay, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý những vật chứng sau:

- 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đen, số khung: RLCE1S9A0BY017968; số máy: 1S9A-017978, biển số 59L1-037.74.

- 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đen, số khung: RLCE1S9A0BY019402, số máy: 1S9A019405, biển số 66H1-523.68.

- 02 bình xịt hơi cay hiệu TAKE DOWN OO 5.5 FOGGER; 01 bình xịt hơi cay hiệu BX4.

Bị hại Lê Mộng C, Võ Thị Ngọc T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự.

Riêng đối với bị hại Lê Huỳnh Phương L đã tự nguyện thỏa thuận nhận xong số tiền bồi thường là 28.822.000 đồng giá trị sợi dây chuyền vàng bị mất, không yêu cầu gì khác về trách nhiệm dân sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu; các bị cáo không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về bản kết luận giám định, đồng thời không có khiếu nại gì đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Tại bản Cáo trạng số 63/CT-VKSĐH ngày 31/5/2022 của Viện kiểm sát N dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Thái Văn N, Nguyễn Tuấn H, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Ngọc N về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Đề nghị tuyên bố các bị cáo Thái Văn N, Nguyễn Tuấn H, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Ngọc N phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn H, Nguyễn Ngọc N từ 05 năm đến 05 năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2022 các bị cáo bị tạm giữ, tạm giam.

Xử phạt bị cáo Thái Văn N, Nguyễn Thành Đ từ 04 năm 6 tháng đến 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2022 các bị cáo bị tạm giữ, tạm giam.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đen, số khung: RLCE1S9A0BY017968; số máy: 1S9A-017978 thuộc quyền sở hữu của Thái Văn N mua lại từ ông Phạm Văn Nhựt T, do N sử dụng làm phương tiện phạm tội.

- Tịch thu 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đen, số khung: RLCE1S9A0BY019402, số máy: 1S9A019405 (không tìm thấy thông tin chủ sở H) của Nguyễn Thành Đ sử dụng làm phương tiện phạm tội.

- Tịch thu tiêu hủy 01 biển số 66H1-523.68 là biển số giả và 01 biển số 59L1-037.74 là biển số đăng ký xe Nouvo, hiệu Yamaha, màu trắng đen thuộc sở H của ông Lý Chí T, ông T đã bán xe cho người khác nên không có yêu cầu gì.

- Tịch thu tiêu hủy 02 bình xịt hơi cay hiệu TAKE DOWN OO 5.5 FOGGER; 01 bình xịt hơi cay hiệu BX4 sử dụng vào mục đích phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Mộng C, Võ Thị Ngọc T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên không đề cập xem xét.

Riêng đối với bị hại Lê Huỳnh Phương L đã tự nguyện thỏa thuận nhận xong số tiền bồi thường là 28.822.000 đồng giá trị sợi dây chuyền vàng bị mất, không yêu cầu gì khác về trách nhiệm dân sự nên không đề cập xem xét

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Đề xuất kiến nghị: Đề nghị Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa xử phạt hành chính về hành vi sử dụng công cụ hỗ trợ đối với 04 bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đức Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trước tòa, các bị cáo Thái Văn N, Nguyễn Tuấn H, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Ngọc N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra trước tòa, thể hiện: Ngày 18/01/2022, tại địa phận các ấp B, xã Đức Hòa H, ấp Tràm L, xã Mỹ Hạnh B và ấp Nhơn Hòa 0, xã Đức Hòa T, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, Thái Văn N, Nguyễn Ngọc N, Nguyễn Tuấn H, Nguyễn Thành Đ cùng nhau thực hiện hành vi điều khiển xe mô tô biển số 59L1-037.74 và 66H1-523.6803 nhanh chóng chiếm đoạt 03 sợi dây chuyền có mặt dây chuyền với tổng trị giá thành tiền là 52.964.600 đồng của các bị hại Lê Huỳnh Phương L, Lê Mộng C và Võ Thị Ngọc T và nhanh chóng tăng ga tẩu thoát thì bị bắt quả tang, tạm giữ người và vật chứng vụ án. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự

Hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở H, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ. Các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội “Cướp giật tài sản” nhưng không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ và không cấu kết chặt chẽ nên đây chỉ là đồng phạm giản đơn.

Việc các bị cáo sử dụng xe gắn máy là phương tiện nguy hiểm thực hiện hành vi cướp giật tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát không những gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại xong cho bị hại; bị hại Lê Huỳnh Phương L có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo được quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hình phạt đối với các bị cáo: Các bị cáo là đồng phạm giản đơn, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo như nhau. Tuy nhiên, bị cáo N điều khiển xe chở H trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của các bị hại 02 lần, bị cáo Đ điều khiển xe chở N trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại 01 lần nên Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt của N và H bằng nhau và nghiêm khắc hơn mức hình phạt của N và Đ.

Đối với hành vi sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ là bình xịt hơi cay của các bị cáo N, H, Đ, N. Do các bị cáo không có tiền án, tiền sự về hành vi sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ nên hành vi của các bị cáo N, H, Đ, N không đủ yếu tố cấu thành tội phạm có liên quan.

Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa xử phạt hành chính về hành vi sử dụng công cụ hỗ trợ đối với 04 bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Lê Mộng C, Võ Thị Ngọc T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự. Riêng đối với bị hại Lê Huỳnh Phương L đã tự nguyện thỏa thuận nhận xong số tiền bồi thường là 28.822.000 đồng giá trị sợi dây chuyền vàng bị mất, không yêu cầu gì khác về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xử lý vật chứng:

Đối với 01 sợi dây chuyền 18 kara, dạng ống nối với mắt xích tròn, mặt dây hình bông hoa nhiều cánh có đính đá màu trắng ở giữa; nhiều hạt đá nhỏ xung quanh và 01 đoạn dây chuyền 18 kara dạng mắt xích dài 33cm bị hỏng móc ở một đầu, đầu còn lại bị đứt mắt xích Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa đã trả lại cho bị hại vào ngày 26/01/2022 là phù hợp nên không xem xét.

Đối với xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đen, số khung: RLCE1S9A0BY017968; số máy: 1S9A-017978 biển số 59L1-037.74. Qua kết quả xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của Công an huyện Đức Hòa, xác định số khung: RLCE1S9A0BY017968; số máy: 1S9A-017978 là của xe mô tô biển số 71B1-980-50; chủ xe là Phạm Văn Nhựt T và Biển số xe 59L1-037.74 là của chủ xe Lý Chí T, có số khung, số máy khác. Phạm Văn Nhựt T, Lý Chí T đều xác định đã bán xe cho người khác từ lâu và không nhớ bán cho ai. Do đó, có căn cứ tịch thu sung vào ngân sách nhà nước xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đen, số khung: RLCE1S9A0BY017968; số máy: 1S9A-017978 các bị cáo dùng vào việc phạm tội. Đối với biển số xe 59L1-037.74 là biển số đăng ký xe Nouvo, hiệu Yamaha, màu trắng đen thuộc sở H của ông Lý Chí T, ông Tính đã bán xe cho người khác nên không có yêu cầu gì và không có gía trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đen, số khung: RLCE1S9A0BY019402, số máy: 1S9A019405, biển số 66H1-523.68. Qua kết quả xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của Công an huyện Đức Hòa không tra cứu được số khung, số máy và biển số xe. Các bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với biển số xe giả 66H1-523.68 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 bình xịt hơi cay hiệu TAKE DOWN OO 5.5 FOGGER; 01 bình xịt hơi cay hiệu BX4 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Các bị cáo Thái Văn N, Nguyễn Tuấn H, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Ngọc N phải nộp án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm c, d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

2. Tuyên bố: Các bị cáo Thái Văn N, Nguyễn Tuấn H, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Ngọc N phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn H 05 (năm) năm tù.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N 05 (năm) năm tù.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 04 (bốn) năm 6 (sáu) tháng tù.

Xử phạt bị cáo Thái Văn N 04 (bốn) năm 6 (sáu) tháng tù.

Tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

- Xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đen, số khung: RLCE1S9A0BY017968; số máy: 1S9A-017978

- Xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đen, số khung: RLCE1S9A0BY019402, số máy: 1S9A019405

Tịch thu tiêu hủy:

- 02 biển số xe: 59L1-037.74; 66H1-523.68.

- 02 bình xịt hơi cay hiệu TAKE DOWN OO 5.5 FOGGER; 01 bình xịt hơi cay hiệu BX4

(hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa đang quản lý theo biên bản giao nhận số 76-03/2022 ngày 03/6/2022).

4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135; 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Thái Văn N, Nguyễn Tuấn H, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Ngọc N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử sơ thẩm công khai các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ niêm yết bản án.

Cỡ chữ