- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ bản án HSST - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngư…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Phương N 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án và được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 06 tháng 7 năm 2020 đến ngày 06 tháng 01 năm 2022.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Thông tư số 22/2019/TT-BYT quy định tỷ lệ phần trăm tổn thươ…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Bản án số: 68/2022/HS-PT Ngày: 18-5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế
Các Thẩm phán:
Ông Hà Thanh Hùng
Ông Trịnh Xuân Miễn
- Thư ký phiên toà: Ông Hồ Văn Mil, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê Kiều Diễm – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13, 18 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2022/TLPT-HS ngày 11 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Minh S1 và Trần Phương N do có kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2022/HS-ST ngày 06/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
- Các bị cáo bị kháng cáo:
1. Nguyễn Minh S1, sinh năm 1996 tại Cà Mau; nơi cư trú: Ấp Th, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Nguyễn Minh T (đã chết) và bà Ngô Thúy K; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Có 01 tiền sự đã được xóa (Ngày 31/01/2019 đã bị Công an xã Tân Trung xử phạt vi phạm hành chính về hành vi ném gạch, đất, đá, cát hoặc bất cứ vật gì vào nhà, vào phương tiện giao thông, vào người, đồ vật, tài sản của người khác); bị bắt tạm giam từ ngày 06/7/2020 đến ngày 06 tháng 01 năm 2022 được trả tự do tại phiên tòa. Bị cáo có mặt.
2. Trần Phương N, sinh năm 1997 tại Cà Mau; nơi cư trú: Ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Trần Văn Tr và bà Võ Bích Th; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 06/7/2020 đến ngày 06 tháng 01 năm 2022 được trả tự do tại phiên tòa. Bị cáo có mặt.
- Bị hại: Anh Phạm Ngọc V, sinh năm 1993 (đã chết)
- Người đại diện hợp pháp của anh V:
1. Ông Phạm Hoàng Ch, sinh năm 1959 (cha ruột anh V, có mặt)
2. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1968 (mẹ ruột anh V, vắng mặt)
Cùng nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau
- Người bảo vệ quyền và lợi ích của ông Ch và bà X:
Ông Chu Bá Thực và ông Nguyễn Thanh Hải – Là luật sư của Công ty luật trách nhiệm hữu hạn Thực Trí thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Các luật sư vắng mặt ngày 18 tháng 5 năm 2022 đến khi kết thúc phiên tòa.
Địa chỉ: Số 481, đường Nguyễn Khang, phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (không được Tòa án triệu tập):
1. Ông Trần Văn Tr (cha của bị cáo N), sinh năm 1969; nơi cư trú: Ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau
2. Nguyễn Minh T (cha của bị cáo S1, đã chết)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và D biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào trưa ngày 03/5/2020, tại nhà của Tiêu Văn D ở ấp H, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau có tổ chức uống rượu, tham gia gồm có: D, Lương Văn Ng, Nguyễn Nhựt L, Tiêu Hồng S3, Phạm Ngọc V, Nguyễn Minh C, Trần Phương N. Trong lúc nhậu, giữa V và N có phát sinh mâu thuẫn, cự cãi qua lại với nhau, nhưng được mọi người khuyên ngăn nên tất cả vẫn tiếp tục ngồi nhậu.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, N nghỉ nhậu và điều khiển xe mô tô đi về trước. Trên đường, N dùng điện thoại di động gọi cho V tiếp tục cự cãi, thách đố và cả hai hẹn nhau đến cầu Hòa Trung để đánh nhau. N gọi điện thoại cho Nguyễn Công B kêu đi đến cầu Hòa Trung để gặp N, B đồng ý. Sau đó, N đi đến nhà gặp Nguyễn Minh S1 kể lại vụ việc hẹn đánh nhau với V ở cầu Hòa Trung và nhờ S1 giúp, S1 đồng ý. S1 gọi điện cho Mai Thạch S2 ở cùng địa phương, nói là mình gặp chuyện và kêu S2 mang theo hung khí đến giúp. Một lúc sau, có Huỳnh Văn Đ và Lê Quốc Ph1 ở cùng địa phương đi đến nhà S1 chơi. Tiếp sau đó thì S2 cũng điều khiển xe mô tô đến và S2 có mang theo 01 cây dao tự chế. Sau khi S1 nói lại nội dung vụ việc, thì N nói đây là việc của N và kêu S2, Đ, Ph1 không cần đi cùng, rồi N điều khiển xe mô tô của N chở S1 chạy đi về hướng cầu Hòa Trung. Nghe vậy, S2 lấy cây dao mang theo giấu vào đám cỏ ven đường, cách nhà S1 khoảng 600m, rồi cùng với Đ và Ph1 điều khiển xe chạy theo phía sau N và S1. Đối với B, thì sau khi nghe N gọi, B rủ Linh đi cùng với B đến cầu Hòa Trung để đợi N.
Trong khi đó tại nhà của D, sau khi đồng ý hẹn đánh nhau với N, V định điều khiển xe đi thì D hỏi và biết được vụ việc, nên D điều khiển xe mô tô chở L chạy đi trước nhằm tìm gặp N để can ngăn và giải hòa; tiếp sau đó, Ng điều khiển xe mô tô chở V và S3 điều khiển xe mô tô chở C đi theo sau. Trên đường, V gọi điện thoại cho Mai Hoàng Ph2, ở ấp Gành Hào, xã Tạ An Khương Đông đến để giúp V đánh nhau, Ph2 đồng ý.
Khi D và L qua phà Vàm Mương Điều đi lên lộ bê tông thuộc ấp Thành Vọng, xã Tân Trung thì gặp N và S1 đang ở đây, D và L nói chuyện khuyên ngăn N bỏ qua vụ việc, nhưng N và S1 không nói gì mà tiếp tục điều khiển xe đi về hướng cầu Hòa Trung; D và L điều khiển xe chạy theo N và S1 để khuyên ngăn; còn S2 thì vẫn điều khiển xe phía sau. Khi đi được một đoạn cách đường dẫn xuống bến phà Vàm Mương Điều khoảng 600m, thì S1 nói với N thấy chỗ đường dẫn xuống bến phà có đông người, nên N quay xe trở lại; D, L và S2 cũng quay xe trở lại.
Khi N và S1 trở lại đến ngã ba đường dẫn xuống bến phà Vàm Mương Điều thì gặp V, Ph2, Ng, S3 và C đang ở đây, lúc này khoảng hơn 18 giờ cùng ngày; N cự cãi với Ph2 rồi đi đến dùng chân đạp làm gãy đoạn cây gỗ tràm dùng để cặm biển báo bến phà Vàm Mương Điều và lấy một đoạn cầm trên tay định đánh nhau với Ph2, nhưng được D căn ngăn, nên N làm rơi đoạn cây gần vị trí của S1 đứng; S1 nhặt đoạn cây trên cầm trên tay và đứng ngay chỗ ngã ba đường dẫn xuống bến phà; Ph2 điều khiển xe bỏ chạy đi ra hướng cầu Hòa Trung. Tiếp đó, N và V cự cãi nhau; N dùng chân đạp V 01 cái nhưng không trúng, thì V cầm mũ bảo hiểm của V đánh lại N nhưng cũng không trúng; N xông vào dùng tay đánh V khoảng 03 cái vào người; V bỏ chạy đến chỗ ngã ba đường dẫn xuống bến phà, thì bị S1 dùng đoạn cây trên đánh 01 cái trúng vào vùng trán bên trái của V gây thương tích, thì được mọi người can ngăn làm rơi đoạn cây trên tay S1; V tiếp tục bỏ chạy theo đường xuống bến phà, khi đến bến phà thì V chạy S1 biền lá cặp đó để trốn. N đi đến chỗ biển báo bến phà trên dùng chân đạp gãy tiếp 01 đoạn cây dùng để cậm biển và lấy một đoạn cầm trên tay rồi cùng với S1 đuổi theo V; anh S3, C và Ng cũng chạy theo để can ngăn S1 và N. Khi tất cả đi đến bến phà thì không tìm thấy V. N dùng cây mang theo đập vào cây cột mái hiên nhà chờ phà 01 cái rồi cùng với S1 và những người khác đi trở lên lộ. Thời Đ này, B và Linh đi đến gặp N thì N kêu đi về. Còn S2 thì đứng cách đó một đoạn để nhìn mà không có hành động hay lời nói gì. Sau đó, N điều khiển xe đi về nhà, còn S1 thì được S2 chở về.
Đối với anh V, sau khi chạy xuống biền lá trốn, thì được mọi người đi tìm nhưng không gặp nên đã báo cho gia đình V. Đến khoảng 01 giờ ngày 05/5/2020, gia đình và người dân phát hiện tử thi của V trên sông Mương Điều thuộc ấp Mương Điều A, xã Tạ An Khương, huyện Đầm Dơi. Ngày 08/5/2020, ông Phạm Hoàng Ch là người đại diện theo pháp luật của anh Phạm Ngọc V có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với S1 và N.
Theo Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 22/TT-20 ngày 03/6/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Cà Mau kết luận nguyên nhân chết và tỷ lệ thương tật của anh Phạm Ngọc V như sau: Dấu hiệu chính qua giám định:
+ 01 vết thương vùng trán trái, kích thước 2,5cm x 1,5cm x 01cm;
+ Bầm máu cơ thành ngực khoảng liên sườn II thành ngực phải, kích thước 04cm x 01cm;
+ Xuất huyết dưới nhện vùng trán thái dương trái;
+ Các tạng đang sung huyết, đang phân hủy;
- Nồng độ Ethanol (cồn) trong máu 286,56mg/100ml;
- Độc chất:
+ Mẫu máu:
Không phát hiện các độc chất trong danh mục tầm soát (Theo bản kết luận giám định pháp y về hóa pháp số MST 315/ĐC/2020 ngày 20/5/2020 của Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh).
Không phát hiện các chất: Amphetamine, Heroin, Ketamine, MDA, MDEA, MDMA, Methamphetamine, Morphine.
+ Mẫu phủ tạng: Không phát hiện các chất trong danh mục tầm soát (Theo bản kết luận giám định pháp y về hóa pháp số MST 315/ĐC.2020 ngày 20/5/2020 của Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh).
Định tính Xyanua, Photphua: Âm tính.
- Mô bệnh học
+ Các tạng thoái hóa.
+ Phù phổi cấp.
Nguyên nhân chết:
- Ngạt nước.
Tại thời điểm giám định Trung tâm Pháp y tỉnh Cà Mau xác định có các thương tích:
- 01 vết thương vùng trán trái, kích thương 2,5cm x 1,5cm x 01cm.
- Xung huyết dưới nhện vùng trán – thái dương trái.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Phạm Ngọc V tại thời điểm giám định là 10%.
Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích qua hồ sơ số 03/HS-20 ngày 16/6/2020 kết luận bổ sung thương tích của anh Phạm Ngọc V như sau: Dấu hiệu chính qua giám định:
- 01 vết thương vùng trán trái, kích thước 2,5cm x 1,5cm x 01cm;
Kết luận:
- 01 vết thương vùng trán trái, kích thước 2,5cm x 1,5cm x 01cm. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra;
Kết luận khác:
- Thương tích do vật tày hoặc vật tày có cạnh tác động vào vùng trán trái làm tổn thương vùng da trán trái như trên cơ thể Phạm Ngọc V;
- Tại thời điểm giám định Trung tâm Pháp y tỉnh Cà Mau xác định nguyên nhân tử vong của Phạm Ngọc V là: Ngạt nước. Vết thương vùng trán trái kích thước 2,5cm x 1,5cm x 01cm không phải là nguyên nhân gây chết của anh Phạm Ngọc V. Tại thời điểm giám định Trung tâm Pháp y tỉnh Cà Mau xác định vết thương vùng trán trái kích thước 2,5cm x 1,5cm x 01cm của Phạm Ngọc V không gây nguy hiểm đến tính mạng.
Theo Công văn số 54/CV-TTPY ngày 07/8/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Cà Mau giải thích kết luận giám định đối với thương tích của anh Phạm Ngọc V như sau:
- Bầm máu cơ thành ngực khoảng liên sườn II thành ngực phải, kích thước 04cm x 01cm. Không xếp tỷ lệ phần trăm. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.
- Thương tích trên do vật tày hoặc vật tày có cạnh tác động lên khoảng liên sườn II thành ngực phải, sau đó để lại thương tích như trên.
Theo Công văn số 41/CV-TTPY ngày 31/5/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Cà Mau giải thích kết luận giám định đối với thương tích của anh Phạm Ngọc V như sau: “Ngày 05/5/2020 Trung tâm Pháp y tỉnh Cà Mau đã tiến hành giám định trực tiếp trên tử thi của ông Phạm Ngọc V, sinh năm 1993, căn cứ bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 22/TT-20 ngày 03/6/2020 Trung tâm Pháp y trả lời như sau:
- 01 vết thương vùng trán trái, kích thước: 2,5cm x 1,5cm x 01cm. Căn cứ Khoản 2, Mục I, Chương 8, Bảng 1, Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019. Tỷ lệ 2%.
- Xuất huyết dưới nhện vùng trán – thái dương trái. Căn cứ phần ghi chú mục III.8 tại Chương 1, Bảng 1, Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019. Tỷ lệ 8%.
- Thương tích “Xuất huyết dưới nhện vùng trái trái – thái dương trái” do vật tày hoặc vật tày có cạnh tác động làm tổn thương các mạch máu màng nuôi (màng nhện) hoặc trong não vùng trán – thái dương trán gây ra tình trạng có hình ảnh xuất huyết vùng trán – thái dương trái.
- Tại thời Đ giám định Trung tâm Pháp y tỉnh Cà Mau xác định nguyên nhân tử vong của Phạm Ngọc V là “Ngạt nước”. Tổn thương “Xuất huyết dưới nhện vùng trán trái – thái dương trái” không Ph1 là nguyên nhân gây tử vong của ông Phạm Ngọc V. Từ đó, Trung tâm Pháp y tỉnh Cà Mau xác định tổn thương “Xuất huyết dưới nhện vùng trán – thái dương trái” của ông Phạm Ngọc V tại thời điểm giám định không nguy hiểm đến tính mạng.”
Theo Kết luận giám định số 3286/C09B ngày 23/6/2020 của Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Viện Khoa học hình sự – Bộ Công an xác định: Khúc cây cứng, rắn chắc gửi giám định (khúc gỗ tròn dài 90cm, vòng tròn 17cm – là đoạn còn lại của đoạn cây mà Nguyễn Minh S1 dùng để đánh anh Phạm Ngọc V) nếu tác động trực tiếp lên cơ thể người có thể gây thương tích và là hung khí nguy hiểm.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2022/HS-ST ngày 06/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi đã quyết định: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt mỗi bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “cố ý gây thương tích” (Thời hạn phạt tù bằng thời gian các bị cáo bị tạm giam từ ngày 06/7/2020 đến ngày 06/01/2022. Các bị cáo đã chấp hành xong). Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 07/01/2022, đại diện hợp pháp của bị hại V là ông Ch và bà X kháng cáo toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, giám định lại thương tích của bị hại V, khởi tố bổ sung đối với Mai Thạch S2, làm rõ có vai trò đồng phạm giúp sức cho các bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Ông Ch vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau: Đề nghị áp dụng Đ a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2022/HS-ST ngày 06 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.
- Các luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Ch và bà X trình bày: Vụ án có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đối với Mai Thạch S2; Cách xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với anh V không đúng quy định. Phần bồi thường thiệt hại cho gia đình anh V không đúng quy định. Do đó, đề nghị hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2022/HS-ST ngày 06/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi để điều tra giải quyết lại vụ án.
- Lời nói sau cùng của bị cáo N: Thừa nhận hành vi phạm tội. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Lời nói sau cùng của bị cáo S1: Thừa nhận hành vi phạm tội. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại Biên bản khám nghiệm tử thi ngày 05/5/2020 ghi nhận bị hại Phạm Ngọc V có 01 vết thương vùng trán trái, xuất huyết dưới nhện vùng trán – thái dương trái và 01 vết thương bầm máu cơ thành ngực khoảng liên sườn II thành ngực phải. Các vết thương này phù hợp với Kết luận giám định pháp y về tử thi số 22/TT-20 ngày 03/6/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Cà Mau xác định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh V tại thời điểm giám định là 10% và Kết luận giám định pháp y về thương tích qua hồ sơ số 03/HS-20 ngày 16/6/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Cà Mau kết luận thương tích của anh V có 01 vết thương vùng trán trái có bờ mép nham nhở do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra. Thương tích do vật tày hoặc vật tày có cạnh tác động vào vùng trán trái làm tổn thương vùng da trán trái. Đối chiếu với cơ chế hình thành vết thương của bị hại phù hợp với lời khai của các bị cáo N, S1 và các chứng cứ khác có tại hồ sơ. Mặt khác, tại Công văn số 41/CV – TTPY ngày 31 tháng 5 năm 2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Cà Mau về việc giải thích kết luận giám định của bị hại V: 01 vết thương vùng trán trái, kích thước 2,5cm x 1,5cm x 01 cm. Căn cứ khoản 2, mục I, chương 8, Bảng 1, Thông tư 22/2019/TT – BYT ngày 28/8/2019. Tỷ lệ 2%; Xuất huyết dưới nhện vùng trán – thái dương trái. Căn cứ phần ghi chú mục III.8 tại chương 8, Bảng 1, Thông tư 22/2019/TT – BYT ngày 28/8/2019. Tỷ lệ 8%. Thương tích “Xuất huyết dưới nhện vùng trán – thái dương trái” do vật tày hoặc vật tày có cạnh tác động làm tổn thương các mao mạch máu màng nuôi (màng nhện) hoặc trong não vùng trán – thái dương trái gây ra tình trạng có hình ảnh xuất huyết vùng trán – thái dương trái. Cách xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với anh V của Trung tâm Pháp y tỉnh Cà Mau theo Công văn số 41/CV-TTPY nói trên là đúng với quy định tại Thông tư số 22/2019/TT – BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế. Do đó, việc các luật sư bảo vệ quyền lợi cho đại diện bị hại yêu cầu xác định lại cách tính thương tích của bị hại V là không có căn cứ và việc triệu tập Giám định viên của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế Cà Mau đến phiên tòa là không cần thiết.
Đối với Mai Thạch S2: Thực tế S2 được Nguyễn Minh S1 rủ đi đánh nhau nhưng khi gặp Trần Phương N, N đã từ chối sự giúp sức của S2. S2 có chạy xe theo đến hiện trường nhưng không có hành động gì. Giữa N, S1 và S2 không bàn tính, sắp xếp phân công S2 để giúp sức cho S1 và N trong việc gây thương tích cho bị hại V nên S2 không đồng phạm với các bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận: Vào khoảng 17 giờ ngày 03/5/2020 do phát sinh mâu thuẫn giữa N và bị hại V trong lúc uống rượu tại nhà anh Tiêu Văn D ở ấp H, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau nên cả hai hẹn đánh nhau ở cầu Hòa Trung. N rủ S1 theo hẹn anh V gặp và đánh nhau. Khi đến ngã ba đường dẫn xuống bến phà Vàm Mương Điều, N có dùng tay đánh V 03 cái vào người (qua giám định không xếp tỷ lệ thương tích), S1 có dùng đoạn cây gỗ tràm đánh trúng một cái vào vùng trán bên trái của V gây thương tích theo giám định là 10%.
Sau khi bị N và S1 đánh, anh V bỏ chạy về hướng bến phà vào khu vực biền lá dừa nước cặp sông Mương Điều. Sau đó, N và S1 đuổi theo anh V nhưng không gặp. Cùng lúc này, anh D, C và Ng tiếp tục tìm kiếm anh V nhưng không thấy nên có báo gia đình và chính quyền địa phương. Đến 01 giờ ngày 05/5/2020, phát hiện thi thể anh V nổi trên sông Mương Điều A, xã Tạ An Khương, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, cách bến phà khoảng 200m. Giám định xác định anh V chết là do nguyên nhân bị ngạt nước. Do đó, không có cơ sở xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thương tích của các bị cáo đối với cái chết của anh V.
Với các tình tiết nêu trên, Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi đã xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền tự do về thân thể của công dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Trước khi phạm tội, các bị cáo không có sự câu kết, bàn bạc chặt chẽ trong việc đánh anh V, nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn và cùng là người thực hành. Các bị cáo gây thương tích cho bị hại trái pháp luật, phạm tội thì phải bị xử lý và chịu hình phạt theo pháp luật hình sự.
Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã có xem xét tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo, gồm: Gia đình các bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại được 90 triệu đồng; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo N có ông bà nội, bị cáo S1 có bà ngoại và ông cậu là người có công với đất nước. Tuy nhiên, mức hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù mà cấp sơ thẩm xử phạt đối với mỗi bị cáo là đánh giá chưa đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, không có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Tuy phía đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo đề nghị hủy án sơ thẩm nhưng cũng có ý kiến cho rằng mức hình phạt mà cấp sơ thẩm xử phạt đối với các bị cáo là nhẹ, do đó, cần phải tăng mức hình phạt tù đối với các bị cáo là cần thiết.
Về tránh nhiệm dân sự:
Gia đình các bị cáo đã thỏa thuận với gia đình bị hại bồi thường chi phí mai táng cho bị hại V với tổng số tiền là 90 triệu đồng.
Các bị cáo xâm phạm sức khỏe của bị hại và việc bị hại tử vong không phải do hành vi của các bị cáo trực tiếp gây ra. Tuy nhiên, nguyên nhân cũng xuất phát từ hành vi trái pháp luật của các bị cáo dẫn đến bị hại phải chạy trốn và thực tế đã tử vong nên tinh thần của người thân, gia đình bị hại phải gánh chịu nỗi đau thương và mất mát mà không có gì có thể bù đắp, cấp sơ thẩm đã quyết định buộc các bị cáo phải bồi thường tổn thất tinh thần cho đại diện hợp pháp của bị hại V là đúng, tuy nhiên, số tiền các bị cáo cùng phải bồi thường 17.880.000 đồng tương ứng với 12 tháng lương cơ bản là chưa phù hợp, vì vậy, cần phải tăng mức bồi thường lên 24 tháng lương cơ bản với tổng số tiền là 35.760.000 đồng, trong đó, phần của mỗi bị cáo phải bồi thường là 17.880.000 đồng.
Với các phân tích nêu trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau cũng như ý kiến của các luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Ch và bà X không được chấp nhận.
Do tăng khoản tiền bồi thường thiệt hại, nên cần xác định lại khoản tiền án phí dân sự sơ thẩm các bị cáo phải nộp.
Đại diện hợp pháp của bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị, đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Ngọc V là ông Phạm Hoàng Ch và bà Nguyễn Thị X về việc đề nghị hủy bản án sơ thẩm; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2022/HS-ST ngày 06/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau về phần hình phạt và trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo.
2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Trần Phương N 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án và được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 06 tháng 7 năm 2020 đến ngày 06 tháng 01 năm 2022.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh S1 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án và được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 06 tháng 7 năm 2020 đến ngày 06 tháng 01 năm 2022.
3. Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 590 của Bộ luật Dân sự, buộc các bị cáo Trần Phương N và Nguyễn Minh S1 phải liên đới bồi thường tổn thất về tinh thần cho người đại diện theo pháp luật của bị hại Phạm Ngọc V là ông Phạm Hoàng Ch và bà Nguyễn Thị X với tổng số tiền là 35.760.000 (ba mươi lăm triệu bảy trăm sáu mươi nghìn) đồng. Trong đó, phần của mỗi bị cáo phải bồi thường là 17.880.000 (mười bảy triệu tám trăm tám mươi nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
4. Các bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5%, trong đó, phần của mỗi bị cáo phải nộp là 894.000 (tám trăm chín mươi bốn nghìn) đồng.
5. Ông Phạm Hoàng Ch và bà Nguyễn Thị X không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi; - Công an huyện Đầm Dơi; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi; - Chi cục THADS huyện Đầm Dơi; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa HS, án văn; - Lưu VT(TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trọng Quế |