vanban.org

Bản án 68/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án về án phí, lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Thúy K, chị Trần Thị Thúy K được ly hôn anh Lê Thanh T. Về con chung: Giao con chung chưa thành niên tên Lê Tuấn K1 sinh ngày 14/8/2019 cho chị Trần Thị Thúy K được quyền tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị Thúy K ly hôn với Anh Lê Thanh T"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án về án phí, lệ phí Tòa án.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 30.9.2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nàng Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Phương.

2. Ông La Minh Công.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hiếu - là Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện H, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Phạm Viết Diệu Trâm - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 285/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2022/QĐHPT ngày 16 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thúy K, sinh năm 1992 (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn 05, xã X, huyện Y, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn:

Anh Lê Thanh T, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn C, xã O, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị Thúy K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Thanh T tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 16/7/2018 tại Ủy ban nhân dân xã O, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng rất hạnh phúc nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, 02 vợ chồng thường xuyên cãi vã do bất đồng về quan điểm sống, sinh hoạt hàng ngày, anh T thường xuyên bắn cá độ gây nợ nần rất nhiều, hay ghen tuông vô cớ và có hành vi bạo lực gia đình với chị, do đó đầu năm 2022 chị đưa con chung là cháu Lê Tuấn K1 về lại nhà cha mẹ ruột sinh sống cho đến nay. Nay nhận thấy hai bên đã không còn tình cảm yêu thương, quý trọng nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Lê Thanh T.

Về con chung: quá trình chung sống, chị và anh Lê Thanh T có 01 người con chung Lê Tuấn K1, sinh ngày 14/8/2019 hiện đang sinh sống với chị, sau ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: chị Trần Thị Thúy K không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 03/8/2022, bị đơn anh Lê Thanh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh Lê Thanh T không đồng ý ly hôn với chị Lê Thị Thúy K vì anh còn tình cảm với chị K.

Về con chung: nếu Tòa án giải quyết cho anh và chị Trần Thị Thúy K ly hôn, anh yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu chị K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vụ án không tiến hành hòa giải được do anh Lê Thanh T vắng mặt.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham phát biểu việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong vụ án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa tiến hành tố tụng đúng pháp luật; nguyên đơn chấp hành pháp luật, bị đơn không chấp hành pháp luật.

Về nội dung vụ án: Qua lời khai của đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét thấy yêu cầu ly hôn, nuôi con chung của nguyên đơn là có căn c nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Trần Thị Thúy K nộp đơn xin ly hôn với anh Lê Thanh T (cư trú tại: thôn C, xã O, huyện H, tỉnh Bình Thuận), căn c theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Bị đơn anh Lê Thanh T lần th 2 vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn c vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn Lê Thanh T theo thủ tục chung.

Về yêu cầu của đương sự:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Thúy K về yêu cầu ly hôn: Theo các tài liệu, ch ng c thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án xác định được chị Trần Thị Thúy K và Lê Thanh T có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã O, huyện H, tỉnh Bình Thuận vào ngày 16/7/2018. Quá trình chung sống, giữa chị Trần Thị Thúy K và anh Lê Thanh T phát sinh nhiều mâu thuẫn trong thời gian dài, hiện nay hai bên đã không còn chung sống, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Tại biên bản lấy lời khai ngày 03/8/2022 anh Lê Thanh T không đồng ý ly hôn với chị K nhưng không được chị K đồng ý, hơn nữa trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần giấy triệu tập và tiến hành các phiên hòa giải nhưng anh Lê Thanh T đều vắng mặt, cho thấy anh Tkhông có thiện chí hàn gắn tình cảm với chị K. Như vậy có thể khẳng định tình trạng hôn nhân giữa chị Lê Thị Thúy K và anh Lê Thanh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn c khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xét thấy việc chị Trần Thị Thủy K yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lê Thanh T là có căn c nên Tòa án chấp nhận.

Về yêu cầu nuôi con: quá trình chung sống, chị Trần Thị Thúy K và anh Lê Thanh T có 01 người con chung tên Lê Tuấn K1, sinh ngày 14/8/2019; sau ly hôn chị K yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Tcấp dưỡng nuôi con. Nhận thấy, cháu Lê Tuấn K1 vừa đủ 36 tháng tuổi, từ lúc sinh ra cho đến nay sinh sống với chị K, chị K có đủ điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc con, đồng thời trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần giấy triệu tập nhưng anh Lê Thanh T đều vắng mặt và cũng không cung cấp cho Tòa án các tài liệu ch ng c để ch ng minh cho yêu cầu được nuôi con chung Lê Tuấn K1. Do đó để đảm bảo cho sự phát triển bình thường, ổn định về thể chất cũng như tinh thần của cháu Lê Tuấn K1, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao Lê Tuấn K1 cho chị K được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp pháp luật. Chị K không yêu cầu anh Lê Thanh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: chị Trần Thị Thúy K và anh Lê Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tại phiên tòa có cơ sở, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: chị Trần Thị Thúy K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c :

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Thúy K, chị Trần Thị Thúy K được ly hôn anh Lê Thanh T.

2. Về con chung: Giao con chung chưa thành niên tên Lê Tuấn K1 sinh ngày 14/8/2019 cho chị Trần Thị Thúy K được quyền tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện nay cháu Lê Tuấn K1 đang ở với chị K.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn có thể được thực hiện theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Chị Trần Thị Thúy K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ng án phí số 0006373 ngày 06/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bình Thuận; Chị Trần Thị Thúy K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về kháng cáo: chị Trần Thị Thúy K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30.9.2022); anh Lê Thanh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ