vanban.org

Bản án 68/2022/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "tranh chấp về đòi lại tài sản giữa bà G và ông B"
  • Căn cứ chính? Điều 179 Luật Đất đai
TOA AN NHÂN DÂN
HUYÊN GO DÂU
TINH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ban an sô: 68/2022/DS-ST
Ngay: 26-7-2022
V/v “Tranh chấp về đòi lại tai san”

NHÂN DANH

NƯƠC CÔNG HOA XA HÔI CHỦ NGHIA VIÊT NAM

TOA AN NHÂN DÂN HUYÊN GO DÂU, TINH TÂY NINH

- Thanh phân Hôi đông xet xư sơ thâm gôm co:

Thâm phan - Chu toa phiên toa: Ba Lê Thị Vân Quỳnh.

Cac Hôi thâm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Trọn.

Ba Trần Thị Đao.

- Thư ky phiên toa: Ông Lê Đình Văn - Thư ký Tòa an nhân dân huyên Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đai diên Viên kiêm sat nhân dân huyên Go Dâu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toa: Ông Trần Minh Tân - Kiểm sat viên.

Ngay 26 thang 7 năm 2022, tại tru sơ Tòa an nhân dân huyên Gò Dầu xet xư công khai sơ thâm vu an thu lý sô 18/2022/TLST-DS ngay 18 thang 02 năm 2022, về “Tranh chấp về đòi lại tai san” theo Quyêt định đưa vu an ra xet xư sô 60/2022/QĐXXST-DS ngay 04 thang 7 năm 2022, giưa cac đương sư:

- Nguyên đơn:

1. Ba Phạm Thị G, sinh năm: 1965 “Có mặt”.

2. Ông Võ Văn C (M), sinh năm: 1962.

Cùng địa chỉ: ấp C1, xã G1, huyên D, tỉnh TN.

Người đại diên theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đặng Tấn L, sinh năm: 1975. Địa chỉ: ấp M1, xã Đ, huyên D, tỉnh TN “Có mặt”.

- Bị đơn:

1. Ông Ngô Phương B, sinh năm: 1972 “Có mặt”.

2. Ba Nguyễn Thị Mỹ L1, sinh năm: 1972 “Vắng mặt”.

Cùng địa chỉ: ấp C1, xã G1, huyên D, tỉnh TN.

NÔI DUNG VỤ AN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 29-10-2021 và qua cac lần làm việc nguyên đơn cùng người đại diện theo uy quyền cua nguyên đơn (ông Đặng Tấn L) trình bày: Gia đình ba Phạm Thị G va ông Võ Văn C với gia đình ông Ngô Phương B va ba Nguyễn Thị Mỹ L1 trước đây la hang xóm. Ngoai ra, gia đình 02 bên còn la sui gia (cha mẹ ba G la sui với cha mẹ ông B).

Trước đây, vợ chồng ba G có phần đất giap ranh với đất của vợ chồng ông B. Do đất của vợ chồng ba G không có lôi đi ra đường công cộng nên vợ chồng ông B có hứa sẽ sang nhượng vợ chồng ba G 01 phần đất để lam lôi đi.

Khi hai bên chưa thỏa thuận viêc sang nhượng thì vợ chồng ông B có vay của vợ chồng ba G vao cac ngay 19-12-2020 sô tiền 50.000.000 đồng va ngay 10-02-2021 sô tiền 10.000.000 đồng. Tổng cộng 60.000.000 đồng. Khi vay ba L1 có viêt giấy tay sô tiền 50.000.000 đồng, còn sô tiền 10.000.000 đồng không có ký nhận. Cac khoan tiền đều vay không có lãi va không hẹn ngay tra. Hai bên thỏa thuận bằng lời nói la khi nao vợ chồng ông B chuyển nhượng lôi đi thì sẽ khấu trừ khoan tiền vay nay vao tiền chuyển nhượng đất. Hai bên chưa thỏa thuận cu thể diên tích va gia tiền của lôi đi.

Sau đó, ông B nói khi nao cha ông B chêt thì mới chuyển nhượng đất cho vợ chồng ba G; đồng thời, chỉ chuyển nhượng hêt đời vợ chồng ba G thì phai tra lại đất. Do vợ chồng ba G không đồng ý nên đã chuyển nhượng đất của vợ chồng ba G cho người khac va di dời nha đi nơi ơ mới. Từ đó, vợ chồng ba G yêu cầu vợ chồng ông B tra lại sô tiền đã vay, lúc đầu vợ chồng ông B hứa tra trước 30.000.000 đồng, còn lại 30.000.000 đồng để từ từ tra sau. Nhưng cho đên nay vợ chồng ông B vẫn không tra cho vợ chồng ba G được khoan tiền nao ca. Vì vậy, vợ chồng ba G khơi kiên yêu cầu vợ chồng ông B có nghĩa vu tra sô tiền 60.000.000 đồng.

Ngay 11-7-2022 va tại phiên tòa, người đại diên theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng do giấy nhận tiền không thể hiên nội dung vay nên vợ chồng ba G thay đổi yêu cầu khơi kiên từ tranh chấp hợp đồng vay tai san chuyển sang tranh chấp về quyền sơ hưu (la đòi lại tai san). Cu thể, vợ chồng ba G yêu cầu vợ chồng ông B có nghĩa vu tra lại sô tiền 60.000.0000 đồng thuộc quyền sơ hưu của vợ chồng ba G ma vợ chồng ông B đang giư.

Bị đơn ông Ngô Phương B trình bày: Do đất của vợ chồng ba G không có lôi đi ra đường công cộng nên vợ chồng ba G có thương lượng với vợ chồng ông để nhận chuyển nhượng phần đất có chiều ngang 02 met, dai khoang 40 met để lam lôi đi. Vợ chồng ông đồng ý với điều kiên chỉ cho cho vợ chồng ba G đi lại hêt đời vợ chồng ba G, với gia 100.000.000 đồng/2 met ngang.

Vợ chồng ông có nhận tổng cộng 60.000.000 đồng của vợ chồng ba G cùng thời gian nhận tương ứng va giấy tờ ký nhận như lời ba G trình bay la đúng. Tuy nhiên, đây không phai la tiền vay ma la tiền vợ chồng ba G tra trước theo thỏa thuận chuyển nhượng quyền sư dung đất (la lôi đi) giưa 02 bên. Tất ca thỏa thuận chỉ bằng lời nói, không có giấy tờ cũng không có ai chứng kiên.

Đên thang 3-2021, vợ chồng ba G chuyển nhượng đất cho người khac nên không cần nhận chuyển nhượng lôi đi nưa. Từ đó, vợ chồng ba G yêu cầu vợ chồng ông tra 30.000.000 đồng trước, còn 30.000.000 đồng tra dần sau. Nhưng vợ chồng ông không đồng ý. Nay ý kiên của ông như sau:

Một la, ông yêu cầu vợ chồng ba G tra đủ sô tiền còn lại la 40.000.000 đồng va nhận 2 met ngang, dai khoang 40 met đất của vợ chồng ông để sư dung lam lôi đi hay muc đích gì khac thì tùy vợ chồng ba G, đên hêt đời của vợ chồng ba G thì phai tra lại đất cho vợ chồng ông.

Hai la, ông chỉ đồng ý tra lại 50% sô tiền đã nhận (tức 30.000.000 đồng), do ông đã cho con gai ông 30.000.000 đồng để lam vôn lam ăn. Đồng thời, sau khi thỏa thuận nhận chuyển nhượng được lôi đi của vợ chồng ông, thì người sư dung đất tiêp giap đất của vợ chồng ba G (có lôi đi ra đường công cộng) không thể ep vợ chồng ba G ban đất với gia rẻ được nưa nên đã nâng gia mua đất lên cao ngang gia thị trường (ông không rõ gia thỏa thuận cu thể như thê nao). Ông đoan la vợ chồng ba G tăng thêm được khoan thu nhập rất cao. Từ lẽ đó, vợ chồng ba G phai chịu thiêt hại la sô tiền ông đã cho con gai (30.000.000 đồng). Như vậy, vợ chồng ông chỉ đồng ý tra lại vợ chồng ba G sô tiền 30.000.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mỹ L1 trình bày: Thông nhất với lời trình bay của chồng ba la ông Ngô Phương B.

Đại diện Viện kiêm sat nhân dân huyện Go Dầu tham gia phiên toa phat biêu:

Về tố tụng: Từ khi thu lý cho đên trước thời điểm Hội đồng xet xư nghị an, Thâm phan, Hội đồng xet xư, Thư ký phiên tòa va nhưng người tham gia tô tung tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tô tung dân sư.

Về nôi dung: Đề nghị Hội đồng xet xư căn cứ vao cac điều 164 va 166 của Bộ luật Dân sư va Nghị quyêt 326/2016/UBTVQH ngay 30-12-2016 của Ủy ban thường vu Quôc: Chấp nhận yêu cầu khơi kiên của ba Phạm Thị G va ông Võ Văn C (M) đôi với ông Ngô Phương B va ba Nguyễn Thị Mỹ L1, buộc ông B va ba L1 có nghĩa vu tra cho ba G va ông C sô tiền 60.000.000 đồng. Cac đương sư phai chịu an phí theo quy định của phap luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOA AN:

Sau khi nghiên cứu cac tai liêu có trong hồ sơ vu an được thâm tra tại phiên tòa va căn cứ vao kêt qua tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xet xư nhận định:

[1] Về tô tung:

[1.1] Về quan hê phap luật tranh chấp: Khi khơi kiên nguyên đơn yêu cầu bị đơn tra 60.000.000 đồng tiền vay nên Tòa an xac định quan hê phap luật tranh chấp la “Tranh chấp hợp đồng vay tai san”. Ngay 11-7-2022 va tại phiên tòa, người đại diên theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi yêu cầu khơi kiên từ tranh chấp hợp đồng vay tai san chuyển sang tranh chấp về đòi lại tai san. Hội đồng xet xư xet thấy yêu cầu nay phù hợp với cac tình tiêt khach quan của vu an nên xac định lại quan hê phap luật tranh chấp la “Tranh chấp về đòi lại tai san” la có căn cứ theo quy định Điều 166 của Bộ luật Dân sư va khoan 2 Điều 26 của Bộ luật Tô tung dân sư.

[1.2] Bị đơn (ba Nguyễn Thị Mỹ L1) có đơn xin xet xư vắng mặt. Hội đồng xet xư vẫn tiên hanh xet xư vắng mặt ba L1 la phù hợp với khoan 1 Điều 228 của Bộ luật Tô tung dân sư.

[2] Về nội dung: Xet yêu cầu khơi kiên của ba Phạm Thị G va ông Võ Văn C (M), thấy rằng:

[2.1] Cac đương sư cùng thông nhất vợ chồng ông B hiên đang giư của vợ chồng ba G sô tiền 60.000.000 đồng, trong đó 50.000.000 đồng nhận ngay 19-12-2020 va 10.000.000 đồng nhận ngay 10-02-2021. Đây la chứng cứ không cần phai chứng minh. Hội đồng xet xư ghi nhận nội dung nay để lam căn cứ giai quyêt vu an la phù hợp với Điều 92 của Bộ luật Tô tung dân sư.

[2.2] Vợ chồng B cho rằng sô tiền 60.000.000 đồng vợ chồng ông nhận từ vợ chồng ba G la tiền tra trước theo thỏa thuận chuyển nhượng quyền sư dung đất gưa 02 bên. Tuy nhiên, Giấy nhận tiền không thể hiên có nội dung thỏa thuận chuyển nhượng đất. Cu thể, khi giao nhận sô tiền 50.000.000 đồng chỉ ghi “Hôm nay, ngày 19-12-2020, 02 vợ chồng em có nhận anh chị 3 M số tiền 50 triệu”. Khi giao nhận sô tiền 10.000.000 đồng không có biên ban giao nhận. Ngoai ra, vợ chồng ông B không có chứng cứ gì khac để chứng minh. Vợ chồng ba G không thừa nhận có thỏa thuận chuyển nhượng đất. Từ đó, viêc ông B chỉ chấp nhận tra cho vợ chồng ba G ½ sô tiền đã nhận (tức 30.000.000 đồng) với cac lý do như ông B đã trình bay la không có căn cứ, nên Hội đồng xet xư không chấp nhận la có cơ sơ theo quy định tại Điều 179 của Luật Đất đai.

[2.3] Từ nhưng nhận định trên, Hội đồng xet xư xac định vợ chồng ông B đang chiêm giư sô tiền 60.000.000 đồng, đây la tai san thuộc quyền sơ hưu của vợ chồng ba G. Viêc vợ chồng ông B chỉ chấp nhận tra cho vợ chồng ba G ½ sô tiền nay đã lam anh hương đên quyền sơ hưu về tai san của vợ chồng ba G. Vì vậy, Hội đồng xet xư cần buộc vợ chồng ông B có nghĩa vu tra cho vợ chồng ba G sô tiền 60.000.000 đồng la có căn cứ theo quy định tại cac điều 164 va 166 của Bộ luật Dân sư.

[3] Như vậy, toan bộ đề xuất của đại diên Viên kiểm sat nhân dân huyên Gò Dầu la có căn cứ, Hội đồng xet xư cần ghi nhận.

[4] Về an phí dân sư sơ thâm: Căn cứ Điều 26 Nghị quyêt 326/2016/UBTVQH ngay 30-12-2016 của Ủy ban thường vu Quôc hội quy định về an phí, lê phí Tòa an: Buộc vợ chồng ông B phai chịu 5% mức an phí trên sô tiền phai tra cho vợ chồng ba G.

Vì cac lẽ trên,

QUYÊT ĐỊNH:

Căn cứ cac điều 26, 92 va 228 của Bộ luật Tô tung dân sư; cac điều 164 va 166 của Bộ luật Dân sư; Điều 179 của Luật Đất đai; Điều 26 Nghị quyêt 326/2016/UBTVQH ngay 30-12-2016 của Ủy ban thường vu Quôc hội quy định về an phí, lê phí Tòa an:

1. Chấp yêu cầu khơi kiên của ba Phạm Thị G va ông Võ Văn C (M).

Buộc của ông Ngô Phương B va ba Nguyễn Thị Mỹ L1 có nghĩa vu tra cho ba Phạm Thị G va ông Võ Văn C (M) sô tiền 60.000.000 đồng (sau mươi triêu đồng).

2. Về an phí sơ thâm dân sư: Buộc ông B va ba L1 phai nộp 3.000.000 đồng. Hoan tra ba G va ông C 1.500.000 đồng tiền tạm ứng an phí theo biên lai thu sô 0024004 ngay 18-02-2022 của Chi cuc Thi hanh an dân sư huyên Gò Dầu.

3. Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hanh an của người được thi hanh an cho đên khi thi hanh an xong tất ca cac khoan tiền, hang thang bên phai thi hanh an còn phai chịu khoan tiền lãi của sô tiền chưa thi hanh an theo mức lãi suất quy định tại khoan 2 Điều 468 Bộ luật Dân sư.

4. Về quyền khang cao: Đương sư có mặt có quyền khang cao lên Toa an nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngay kể từ ngay tuyên an. Riêng đương sư vắng mặt được quyền khang cao trong hạn 15 ngay kể từ ngay nhận được ban an hoặc ban an được tông đạt hợp lê.

Trường hợp ban an được thi hanh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hanh an dân sư, thì người được thi hanh an dân sư, người phai thi hanh an dân sư có quyền thỏa thuận thi hanh an, quyền yêu cầu thi hanh an, tư nguyên thi hanh an hoặc bị cưỡng chê thi hanh an theo quy định tại cac điều 6, 7 va 9 Luật Thi hanh an dân sư; thời hiêu thi hanh an được thưc hiên theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hanh an.

Cỡ chữ