vanban.org

Bản án 68/2021/QĐST-VHNGĐ — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thanh T về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Nguyễn Hoàng N và cháu Nguyễn Hoàng A , giới tính nam, sinh ngày 24.01.xxx. Quyền, nghĩa vụ giữa ông Nguyễn Hoàng N và cháu Nguyễn Hoàng A chấm dứt kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật. Giao cháu Nguyễn Hoàng A , giới tính: nam, sinh ngày 24.0… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định giải quyết việc Hôn nhân"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thanh T về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CÁI RĂNG
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 68/2021/QĐST-VHNGĐCái Răng, ngày 22 tháng 10 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

(V/v Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi)

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG

Thành phần giải quyết việc Hôn nhân và gia đình gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Hồng Vang

- Thư ký phiên họp: Bà Nhâm Thị Thanh Trang – Thu ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên họp: Ông Trần Bảo Quốc - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình thụ lý số: 64/2021/TLST-VHNGĐ, ngày 28 tháng 5 năm 2021 về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân và gia đình số 194/ 2021/QĐST-VHNGĐ ngày 30 tháng 9 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ngô Thanh T , sinh năm 1987

Địa chỉ: Số xx/, Lê Bình, phường H , quận N , thành phố Cần Thơ

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Hoàng N , sinh năm 1986

Địa chỉ: Số xx – Trần Văn S , khu dân cư D , phường P , quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

(Các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ VIỆC:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình, lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên họp bà Ngô Thanh Tuyền trình bày:

Cháu Nguyễn Hoàng A , giới tính: Nam, sinh ngày 24.01.xx là con ruột của bà Tx và ông Nguyễn Duy Px. Vào năm 20xx bà T và ông P ly hôn, bà T được quyền nuôi cháu Nguyễn Hoàng A . Sau khi ly hôn cháu Hoàng A vẫn được bà T và gia đình bên nội trực tiếp chăm sóc. Đến năm 2020 thì bà T có làm thủ tục cho ông Nguyễn Hoàng N là chú ruột của cháu Hoàng A nhận làm con nuôi và có làm thủ tục nhận con nuôi theo quy định pháp luật. Mục đích cho con nuôi để cháu Hoàng A được sống tốt hơn và có hộ khẩu bên nhà nội về mặt giấy tờ. Sau khi để cho Hoàng N nhận nuôi cháu Hoàng A , bà T vẫn tới lui chăm sóc cháu và cảm thấy hối hận, cháu Hoàng A hiện tại học hành sa sút, bà T muốn nhận lại con để chăm sóc cháu tốt hơn. Nay yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Nguyễn Hoàng N đối với cháu Nguyễn Hoàng A .

Tại biên bản ghi lời khai của đương sự ngày 11.6.2021, tại phiên họp ông Nguyễn Hoàng N trình bày:

Cháu Nguyễn Hoàng A , giới tính nam, sinh ngày 24.01.2009 là con ruột của bà Ngô Thanh T và ông Nguyễn Duy P . Vào năm 20xx giữa bà T và ông P ly hôn, theo bản án của Tòa án thì người trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Hoàng A là bà Ngô Thanh T , nhưng thực chất thì ông N và gia đình bên nội cháu Hoàng A là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Hoàng A . Đến năm 2020 thì bà T có làm thủ tục cho ông N nhận cháu Hoàng A làm con nuôi và có giấy chứng nhận việc nuôi con nuôi theo quy định pháp luật. Việc nhận cháu Hoàng A làm con nuôi không có mục đích gì, bà T cho thì ông N nhận và cũng hợp thức hóa về mặt giấy tờ cho cháu Hoàng A . Do cháu Hoàng A chung sống với ông N và gia đình bên nội và chỉ nghe lời ông N dạy bảo, hiện tại cháu còn nhỏ ông N đợi khi cháu trưởng thành tự lo cho bản thân được ông N sẽ tự nguyện chấm dứt việc nuôi con giữa ông N với Ngô Hoàng A .

Tại phiên họp:

Bà Ngô Thanh T vẫn giữ yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa cháu Nguyễn Hoàng Anh với ông Nguyễn Hoàng N .

Ông Nguyễn Hoàng N vẫn giữ ý kiến không đồng ý chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng phát biểu về việc tuân theo pháp luật và phát biểu quan điểm giải quyết vụ việc:

+Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình Tòa án giải quyết cũng như tại phiên họp, Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định.

+Về quan điểm giải quyết vụ việc: Căn cứ Điều 25 Luật nuôi con nuôi thì yêu cầu của bà Tuyền không có căn cứ. Đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà Ngô Thanh T .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân và gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết việc Hôn nhân và gia đình: Yêu cầu của bà T về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi là yêu cầu về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 5 Điều 29 và khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Cháu Nguyễn Hoàng A , giới tính: Nam, sinh ngày 24.01.2009 là con đẻ của chị Ngô Thanh T và anh Nguyễn Duy P là phù hợp với giấy khai sinh số 28, quyền số I do Ủy ban nhân dân phường An N , quận N , thành phố Cần Thơ cấp ngày 05.3.xxx. Việc ông Nguyễn Hoàng N làm thủ tục nhận cháu Nguyễn Hoàng A giới tính: Nam, sinh ngày 24.01.xx làm con nuôi đã được Ủy ban nhân dân phường P , quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận nuôi con nuôi theo đúng quy định của Luật nuôi con nuôi. Tuy nhiên, việc ông N nhận cháu Hoàng A làm con nuôi không nhằm mục đích xác lập quan hệ cha mẹ và con lâu dài, bền vững theo quy định tại Điều 2 Luật nuôi con nuôi mà chỉ lý do là bà T cho thì nhận và bà T cho con nuôi với mục đích có hộ khẩu bên nội. Việc giao nhận con nuôi đã vi phạm “phong tục tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc” quy định tại khoản 7 Điều 13 Luật nuôi con nuôi. Do đó, việc bà Tuyền là mẹ đẻ của cháu Hoàng A yêu cầu chấp dứt việc nuôi con nuôi là có căn cứ và hợp pháp nên chấp nhận yêu cầu của bà T về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Ngô Thanh T phải chịu theo quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 5 Điều 29; khoản 2 Điều 35; Điều 149; Điều 361; Điều 370; Điều 371; Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 10; khoản 4 Điều 25; Điều 27 Luật nuôi con nuôi.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thanh T về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Nguyễn Hoàng N và cháu Nguyễn Hoàng A , giới tính nam, sinh ngày 24.01.xxx. Quyền, nghĩa vụ giữa ông Nguyễn Hoàng N và cháu Nguyễn Hoàng A chấm dứt kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật.

Giao cháu Nguyễn Hoàng A , giới tính: nam, sinh ngày 24.01.xx cho bà Ngô Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Các quyền, nghĩa vụ của mẹ đẻ đối với cháu Nguyễn Hoàng A được khôi phục kể từ thời điểm quan hệ con nuôi được chấm dứt.

2. Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Bà Ngô Thanh T phải nộp 300.000 đồng. Tiền tạm ứng lệ phí bà Tuyền đã nộp theo biên lai số 006919 ngày 28.5.2021 được chuyển thành lệ phí. Bà T đã nộp xong.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc Hôn nhân và gia đình trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc Hôn nhân và gia đình hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc Hôn nhân và gia đình trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ