vanban.org

Bản án 68/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 15/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Hồng P và Ngô Văn Gi phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Phạm Hồng P 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Ngô Văn Gi 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hồng Ph + Ngô Văn Gi - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Hồng P và Ngô Văn Gi phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2021/HSST
Ngày: 15-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Tuyển.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Öy; ông Phạm Văn Vinh.

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 15/12/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2021/TLST-HS ngày 16/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2021/QĐXXST-HS ngày 02/12/2021 đối với các bị cáo:

1/ Phạm Hồng P - Sinh năm 1999; sinh trú quán tại: Thôn 4, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L và bà Phạm Thị V; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại - Có mặt.

2/ Ngô Văn Gi - Sinh năm 2001; sinh trú quán tại: Thôn 7, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn Kh và bà Mai Thị H; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại - Có mặt.

- Người bị hại: Chị Mai Thị Thu H - Sinh năm: 1982 - Địa chỉ: Thôn Đông Sơn, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đặng Ngọc L - Sinh năm: 1995

- Địa chỉ: Thôn 6, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07h00’ ngày 10/8/2021, chị Mai Thị Thu H, thôn Đông Sơn, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa ngủ dậy phát hiện gia đình bị mất một cây hoa giấy trồng trong chậu để trước cổng, nên đã làm đơn báo cáo Công an xã H. Quá trình kiểm tra, xác minh Công an xã H đã trích xuất camera an ninh để truy tìm đối tượng liên quan, qua rà soát, lực lượng chức năng phát hiện, tại gia đình anh Đặng Ngọc L, sinh năm 1995 ở thôn 6, xã T, huyện N có 01 cây hoa giấy có đặc điểm giống như cây hoa giấy của gia đình chị Mai Thị Thu H. Công an xã H đã phối hợp với Công an xã T mời anh Đặng Ngọc L đến Công an xã T làm việc. Anh L khai nhận cây hoa giấy anh mua của Phạm Hồng P và Ngô Văn Gi, trú quán tại xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa sáng ngày 10/8/2021 giá 1.000.000đ. Quá trình làm việc anh L được biết, cây hoa giấy là do P và Gi trộm cắp mà có. Do đó anh L đã tự nguyện giao nộp cho Công an xã H gồm: 01 cây hoa giấy, có chiều cao 02 mét, chiều rộng tán cây đường kính 1,5 mét, gốc cây có đường kính 10cm, chu vi gốc cây 35cm, có một cành cây ngang uốn hình chữ “U”, hai cành cây hướng lên trên từ thân chính, cây có lá xanh, chưa ra hoa, trên thân và cành có nhiều vết xù xì không rõ hình dạng và 01 cây hoa mẫu đơn đường kính 02cm, chiều cao cây 50cm do P cho anh L ngày 12/8/2021.

Xét thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm, ngày 17/8/2021, Công an xã H đã chuyển tin báo, tố giác tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nga Sơn giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nga Sơn đã điều tra làm rõ:

Chiều ngày 09/8/2021, Phạm Hồng P và Ngô Văn Gi đến nhà anh Đặng Ngọc L, sinh năm 1995 ở thôn 6, xã T, huyện N chơi và mượn xe mô tô nhãn hiệu Wave an pha, màu đen xám, biển kiểm soát 36B1 – 84.035 để P và Gi đi chơi. Khi đi qua nhà chị Mai Thị Thu H ở thôn Đông Sơn, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, P nhìn thấy một cây hoa giấy trồng trong chậu để phía trước cổng nhà, P nảy sinh ý định trộm cắp cây hoa giấy, bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, nên P nói với Gi, “nếu tối nay cây hoa giấy này còn để ngoài thì anh em mình lên lấy cây này nhé”, Gi đồng ý.

Khoảng 00h00’ ngày 10/8/2021, P điều khiển xe mô tô chở Gi đến nhà chị H, nhìn thấy cây hoa giấy vẫn còn ở vị trí cũ, quan sát xung quanh thấy không có người, P dừng xe cách vị trí cây hoa giấy khoảng 200m. Sợ bị phát hiện Gi đứng ngoài quan sát, P đến dùng tay lay thân cây hoa giấy, khi nhìn thấy phần đất bám quanh chậu bung ra, P gọi Gi đến cùng P lay cây và vét đất quanh gốc cây bỏ ra bên ngoài, rồi nhấc cây hoa ra khỏi chậu. Gi đỡ cây lên vai để P vác, Gi điều khiển xe mô tô chở P về Nga Tân. Trên đường đi P và Gi thay nhau vác cây và điều khiển xe mô tô, đến khoảng 02h30’ cùng ngày chở cây đến gia đình anh Đặng Ngọc L, P gọi anh L dậy nói “có mua cây hoa giấy không, ra cổng tôi bán, không để tôi mang về nhà”, anh L hỏi P “cây hoa giấy ở đâu”, P trả lời cây hoa giấy của nhà em, anh L xem cây và đồng ý mua 1.000.000đ. Nhận tiền của anh L, P đưa cho Gi 500.000đ, P hưởng 500.000đ chi tiêu cá nhân.

Ngày 19/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nga Sơn đã ban hành yêu cầu định giá tài sản số 265/CSĐT yêu cầu Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân huyện Nga Sơn định giá 01 cây hoa giấy, có chiều cao 02 mét, chiều rộng tán cây đường kính khoảng 1,5 mét, gốc cây có đường kính khoảng 10cm, chu vi gốc cây khoảng 35cm, có một cành cây ngang uốn hình chữ “U”, hai cành cây hướng lên trên từ thân chính. Cây có lá xanh, chưa ra hoa, trên thân và cành có nhiều vết xù xì không rõ hình dạng.

Ngày 23/8/2021, Hội đồng định giá tài sản huyện Nga Sơn kết luận: 01 cây hoa giấy, có chiều cao 02 mét, chiều rộng tán cây đường kính 1,5 mét, gốc cây có đường kính 10cm, chu vi gốc cây 35cm, có một cành cây ngang uốn hình chữ “U”, hai cành cây hướng lên trên từ thân chính. Cây có lá xanh, chưa ra hoa, trên thân và cành có nhiều vết xù xì không rõ hình dạng giá trị 3.100.000đ. Công an xã H đã trả lại cây hoa giấy cho chị Mai Thị Thu H chăm sóc, quản lý. Sau khi nhận lại cây hoa giấy, chị H không có yêu cầu gì thêm.

Ngoài ra, quá trình điều tra Phạm Hồng P khai nhận vào đêm ngày 12/8/2021, P đi đến trước một ngôi nhà bỏ hoang ở thôn Chiến Thắng, xã Ba Đình, huyện Nga Sơn, nhìn thấy có một cây hoa mẫu đơn mọc bên đường, cao khoảng 40 – 50cm, thân cây có đường kính khoảng 02cm, P xuống xe nhổ cây hoa mẫu đen đem về bán cho anh L, nhưng anh L không mua, nên P đã cho anh L cây hoa mẫu đơn.

Ngày 18/8/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nga Sơn đã thông báo truy tìm bị hại là chủ cây hoa mẫu đơn, nhưng chưa xác định được bị hại. Cơ quan CSĐT Công an huyện Nga Sơn đã giao cho anh L quản lý, chăm sóc.

Đối với anh Đặng Ngọc L khi mua cây hoa giấy, không biết đó là tài sản do P và Gi phạm tội mà có, đã tự nguyện giao nộp tài sản cho Công an. Anh L không yêu cầu bồi thường, bồi hoàn gì nên miễn xét.

Chiếc xe xe mô tô nhãn hiệu Wave an pha màu đen, xám biển kiểm soát 36 B1 – 84.035, Phạm Hồng P và Ngô Văn Gi mượn của anh L đi chơi, anh Đặng Ngọc L không biết P và Gi sử dụng xe đi trộm cắp tài sản, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Nga Sơn không thu giữ chiếc xe trên là phù hợp.

Từ những hành vi trên, Cáo trạng số 70/CT-VKSNS-KT ngày 15/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Phạm Hồng P và Ngô Văn Gi phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX:

- Tuyên bố: Phạm Hồng P và Ngô Văn Gi phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 58; Điều 65; điểm i, s khoản 1 Điều 51 đối với các bị cáo.

- Xử phạt: Phạm Hồng P: Từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án trem, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng; Ngô Văn Gi từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Chị Mai Thị Thu H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm; anh Đặng Ngọc L không yêu cầu các bị cáo phải bồi hoàn số tiền đã mua cây; nên miễn xét.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của bị cáo và những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh:

Khoảng 00h00’ ngày 10/8/2021, Phạm Hồng P và Ngô Văn Gi đã lén lút chiếm đoạt một cây hoa giấy có trị giá 3.100.000đ của gia đình chị Mai Thị Thu H, ở thôn Đông Sơn, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa bán cho anh Đặng Ngọc L ở thôn 6, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa 1.000.000đ, mỗi người hưởng thụ 500.000đ sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Ngoài ra, Phạm Hồng P khai nhận ngày 12/8/2021, P nhổ một cây hoa mẫu đơn mọc bên đường trước một ngôi nhà bỏ hoang ở thôn Chiến Thắng, xã Ba Đình, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, rồi đem bán cho anh L, nhưng anh L không mua, nên P đã cho anh L cây hoa mẫu đơn. Cơ quan CSĐT Công an huyện Nga Sơn đã thông báo truy tìm, nhưng không xác định được bị hại.

Như vậy, hành vi lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt cây hoa giấy của gia đình chị Mai Thị Thu H có trị giá 3.100.000đ của các bị cáo Phạm Hồng P và Ngô Văn Gi đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không bàn bạc, phân công nhiệm vụ trước, các bị cáo thực hiện hành vi là do nhất thời phạm tội, giá trị tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt không lớn và đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Nhưng xét vai trò của từng bị cáo thì thấy: Bị cáo Phạm Hồng P có vai trò khởi xướng, bị cáo Gi tham gia với vai trò tích cực.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu của công dân, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân địa phương.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):

Các bị cáo có nhân thân tốt; không có tình tiết tăng nặng TNHS nhưng được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS đó là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người phạm tội thành khẩn khai báo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về hình phạt:

Từ những nhận định trên, HĐXX xét thấy, tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn nhận tội và thể hiện sự ăn năn hối cải; từ trước đến nay ngoài lần phạm tội này các bị cáo chưa thực hiện một hành vi hành chính, hành vi phạm tội nào khác, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng mà có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên, bị cáo P có vai trò khởi xướng, bị cáo Gi tham gia với vai trò tích cực nên mức hình phạt đối với bị cáo P cao hơn mức hình phạt bị cáo Gi. Các bị cáo bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên xử phạt tù, cho hưởng án treo đối với các bị cáo, để các bị cáo cải tạo dưới sự quản lý, giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng có thể giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Hình phạt bổ sung: Các bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Chị Mai Thị Thu H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm, nên miễn xét.

Đối với anh Đặng Ngọc L khi mua cây hoa giấy, không biết đó là tài sản do P và Gi phạm tội mà có, đã tự nguyện giao nộp tài sản cho Công an. Anh L không yêu cầu các bị cáo bồi thường, bồi hoàn số tiền 1.000.000đ khi mua cây, nên miễn xét.

Về vật chứng vụ án: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave an pha màu đen, xám biển kiểm soát 36 B1 – 84.035, Phạm Hồng P và Ngô Văn Gi mượn của anh L đi chơi, anh Đặng Ngọc L không biết P và Gi sử dụng xe đi trộm cắp tài sản, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Nga Sơn không thu giữ chiếc xe trên là phù hợp.

Tại phiên tòa HĐXX nhận thấy:

Bản cáo trạng, Quyết định truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên đối với các bị cáo là phù hợp, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối với các bị cáo, trước cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, lời nói sau cùng của các bị cáo xin HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho các bị cáo.

Trong hồ sơ vụ án, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều tuân thủ theo quy định của BLTTHS tại Điều 37, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên và Điều 42 nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

+ Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 58; Điều 65; điểm i, s khoản 1 Điều 51 đối với các bị cáo Phạm Hồng P và Ngô Văn Gi.

+ Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Hồng P và Ngô Văn Gi phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Xử phạt:

- Phạm Hồng P 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

- Ngô Văn Gi 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo cho UBND xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

+ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

+ Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 BLTTHS: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ