- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Lê Văn H (Giới) phạm tội: «Cướp tài sản» - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn H (Giới) phạm tội: «Cướp tài sản».
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2021/HS-ST Ngày: 30/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Nữa.
Bà Nguyễn Thị Kim Loan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thư Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Việt Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115A/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Văn H (tên thường gọi là Giới); Sinh ngày: 17/10/1998; Tại: Tỉnh Bình Phước; Thường trú: Thôn BT2, xã PM, huyện BGM, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê H1 và bà: Nguyễn Thị H2; Có vợ: Không và con: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam ngày 07/5/2021.
Tiền án: Ngày 18/02/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xử phạt 15 tháng tù về tội «Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản» (Bản án số: 04/2020/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/01/2021 và đã thi hành xong phần án phí (Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số: 32/GCN của Trại giam Xuân Lộc và Công văn trả lời xác minh số: 255/CV-CCTHADS ngày 03/8/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước).
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại:
Ông Lý Vĩ K; Sinh ngày: 17/11/2001; Thường trú: Ấp LG, xã LC, huyện BC, tỉnh Tây Ninh; Chỗ ở: 778 đường VVK, Phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 06/5/2021, Lê Văn H đón xe khách từ Chợ Mới, tỉnh Bình Phước đến Thành phố Hồ Chí Minh tìm người có tài sản để chiếm đoạt. Trên đường đi, H vào cửa hàng Bách Hóa Xanh (không xác định được địa điểm) mua 01 con dao (loại dao Thái Lan, cán màu vàng, lưỡi bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, dài khoảng 22cm) giấu trong người. Khoảng 00 giờ ngày 07/5/2021, khi đang đứng dưới chân cầu Sài Gòn, H nhìn thấy ông Lý Vĩ K (mặc áo Grab) đang điều khiển xe gắn máy biển số 70F1-724.41 (nhãn hiệu Yamaha MXKING màu xanh đen) chạy trên đường, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe này. Để thực hiện ý định, H gọi ông K lại và nói chở H đến Bến xe Miền Tây. Trên đường đi, H kêu ông K lưu thông qua nhiều tuyến đường để tìm cơ hội. Đến 02 giờ cùng ngày, khi chạy đến trước nhà không số (cạnh nhà số 38) đường Song Hành, Phường 10, Quận 6, thấy đường vắng, ít người qua lại, H liền rút con dao trong người ra chỉa vào lưng ông K khống chế. Cùng lúc, ông K quay lại nhìn thấy liền chụp vào cổ tay đang cầm dao của H đè xuống yên xe làm yên xe bị rách, lưỡi dao bị cong và rớt xuống đường. Thấy vậy, H chồm người lên phía trước đẩy ông K ra định điều khiển xe tẩu thoát. Ngay lập tức, ông K rút chìa khóa xe và tri hô. H liền bỏ xe chạy bộ thì bị những người xung quanh nghe tiếng tri hô của ông K đuổi theo bắt giữ giao Công an Phường 10, Quận 6 giải quyết.
Vật chứng thu giữ: 01 chiếc xe gắn máy biển số 70F1-724.41 (nhãn hiệu Yamaha MXKING màu xanh đen); 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đen (ốp lưng màu xanh); 01 con dao Thái Lan (lưỡi dao bị cong).
Tại Công an Phường 10, Quận 6 cũng như tại Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Lê Văn H đều khai nhận nội dung như đã nêu trên. Ngoài ra, H còn khai ngày 01/5/2021, H đã thực hiện 01 vụ cướp tài sản (tiền, điện thoại) tại khách sạn Tây Đô thuộc thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước. Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã thông báo đến Cơ quan điều tra Công an thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước để giải quyết theo thẩm quyền.
Bị hại Lý Vĩ K và người làm chứng khai cũng tương tự.
Theo Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 07 tháng 5 năm 2021 của Bệnh viện Quận 6 thì Lê Văn H dương tính với Amphetamine.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 101/KL-HĐĐGTS ngày 14 tháng 5 năm 2021, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận 6 đã kết luận trị giá của chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Yamaha, số loại MXKING, sơn màu xanh đen, biển số 70F1-724.41, số khung: MH3UG0750KK036686, số máy: G3E6E0527393 (còn khoảng 90% giá trị sử dụng) tại thời điểm ngày 07/5/2021 là: 32.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 70/CT-VKS-Q6 ngày 15 tháng 11 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Văn H về tội «Cướp tài sản» theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Bị cáo Lê Văn H khai nhận chính bị cáo, đã thực hiện hành vi dùng dao (loại dao Thái Lan, có cán màu vàng, lưỡi bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, dài khoảng 22cm) dí vào lưng ông Lý Vĩ K nhằm uy hiếp tinh thần của ông K để chiếm đoạt chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha, màu xanh đen (bị cáo không nhớ biển số), tại trước nhà không số (cạnh nhà số 38) đường Song Hành, Phường 10, Quận 6 vào khuya ngày 07/5/2021 như nội dung bản cáo trạng nêu và bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông K.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Văn H như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Phạt bị cáo Lê Văn H từ 08 năm đến 10 năm tù về tội «Cướp tài sản» theo điểm d khoản 2 Điều 168; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.
Về bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Lê Văn H bồi thường cho ông Lý Vĩ K số tiền 650.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 con dao bằng kim loại, dài khoảng 22cm, mũi nhọn (bị cong), cán bằng nhựa màu vàng; 01 áo thun màu đen, ngắn tay, trên cổ áo có in dòng chữ «THE MEN»; 01 quần kaki lửng màu đen, lai quần có in chữ «GAP THE LIVED-INSLIM».
Trả lại bị cáo Lê Văn H 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh xám, số Imei: 355244/03/204829/5 (bên trong có 01 sim điện thoại số seri 8984048000301838179).
Còn chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Yamaha, số loại MXKING, sơn màu Xanh Đen, biển số 70F1-724.41, số khung MH3UG0750KK036686, số máy G3E6E0527393, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã xử lý trả cho ông Lý Vĩ K, nên không đề nghị xử lý.
Lời nói sau cùng, bị cáo Lê Văn H nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối chiếu lời khai của bị cáo Lê Văn H tại phiên tòa với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 07/5/2021 của Công an Quận 6; Kết luận định giá tài sản số: 101/KL-HĐĐGTS ngày 14/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận 6; lời khai của bị hại Lý Vĩ K và của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Văn H đã phạm tội «Cướp tài sản». Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Với ý định phạm tội có từ trước, bị cáo Lê Văn H đã sử dụng dao (loại dao Thái Lan, có cán màu vàng, lưỡi bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, dài khoảng 22cm) dí vào lưng ông Lý Vĩ K đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để uy hiếp tinh thần ông K nhằm chiếm đoạt chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Yamaha, số loại MXKING, sơn màu xanh đen, biển số 70F1-724.41, số khung MH3UG0750KK036686, số máy G3E6E0527393 trị giá 32.000.000 đồng vào khuya ngày 07/5/2021 tại trước nhà không số (cạnh nhà số 38) đường Song Hành, Phường 10, Quận 6. Hành vi của bị cáo là táo bạo và liều lĩnh, hành vi này không những đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ mà còn đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của người có tài sản và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an chung. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo về tội «Cướp tài sản» thuộc trường hợp «Sử dụng phương tiện nguy hiểm» theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Bị cáo Lê Văn H là người đã trưởng thành, bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được hành vi cũng như hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra, nhưng do tham lam, lười lao động, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, mặc hậu quả xảy ra cho bị hại như thế nào, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
Bản thân bị cáo Lê Văn H đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản (ngày 18/02/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xử phạt 15 tháng tù về tội «Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản»), chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều này cũng cho thấy tuy đã được cải tạo, giáo dục, bị cáo vẫn không chịu rèn luyện, tu dưỡng để trở thành người công dân có ích cho xã hội mà ngược lại vẫn tiếp tục sống buông thả để ngày càng lún sâu vào con đường phạm tội. Chứng tỏ bị cáo là người hết sức xem thường pháp luật.
Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn H là rất nghiêm trọng, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc tương xứng mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 6 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, thì bị cáo Lê Văn H còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Việc bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, ông Lý Vĩ K vắng mặt, nhưng tại Cơ quan điều tra ông K yêu cầu bị cáo Lê Văn H bồi thường cho ông tiền thay yên xe và tiền công chở bị cáo tổng cộng là 650.000 đồng (theo Biên bản ghi lời khai ngày 26/5/2021 của Công an Quận 6 - BL65). Xét yêu cầu của ông K là có cơ sở và bị cáo cũng đồng ý bồi thường, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Kể từ ngày ông Lý Vĩ K có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo Lê Văn H chậm trả số tiền nêu trên thì hàng tháng, bị cáo Lê Văn H còn phải trả ông Lý Vĩ K khoản lãi phát sinh đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Ngoài yêu cầu bồi thường nêu trên, ông Lý Vĩ K không còn yêu cầu bồi thường thiệt hại nào khác, nên Hội đồng xét xử không xét.
Việc xử lý vật chứng: Công cụ mà bị cáo Lê Văn H dùng vào việc phạm tội là 01 con dao bằng kim loại, dài khoảng 22cm, mũi nhọn (bị cong), cán bằng nhựa màu vàng, là vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy cùng với 01 áo thun màu đen, ngắn tay, trên cổ áo có in dòng chữ «THE MEN»; 01 quần kaki lửng màu đen, lai quần có in chữ «GAP THE LIVED-INSLIM» (bị cáo Lê Văn H mặc lúc lấy thực hiện hành vi cướp tài sản) theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh xám, số Imei: 355244/03/204829/5 (bên trong chiếc điện thoại có 01 sim điện thoại số seri 8984048000301838179) thu giữ của bị cáo Lê Văn H. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả lại cho bị cáo vì không đủ căn cứ xác định do bị cáo phạm tội mà có hay bị cáo đã hoặc sẽ dùng vào việc phạm tội. Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 40/PNK ngày 12 tháng 5 năm 2021 và Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26 tháng 11 năm 2021 của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 67/QĐ-VKS-Q6 ngày 15 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6)
Đối với chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Yamaha, số loại MXKING, sơn màu Xanh Đen, biển số 70F1-724.41, số khung: MH3UG0750KK036686, số máy: G3E6E0527393, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã xử lý trả cho ông Lý Vĩ K (theo Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 10/7/2021 - BL89), do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Đối với hành vi chiếm đoạt tài sản (tiền, điện thoại) tại khách sạn Tây Đô thuộc thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước của Lê Văn H. Ngày 10/5/2021, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã thông báo đến Cơ quan điều tra Công an thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước để giải quyết theo thẩm quyền (Công văn số: 909/CV-ĐT.HS - BL13), do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Bị cáo Lê Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lê Văn H (Giới) phạm tội: «Cướp tài sản».
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn H (Giới) 08 (tám) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2021.
- Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Lê Văn H bồi thường cho ông Lý Vĩ K 650.000 (sáu trăm năm mươi ngàn) đồng.
Kể từ ngày ông Lý Vĩ K có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo Lê Văn H chậm trả số tiền nêu trên thì hàng tháng, bị cáo Lê Văn H còn phải trả ông Lý Vĩ K khoản lãi phát sinh đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) con dao bằng kim loại, dài khoảng 22cm, mũi nhọn (bị cong), cán bằng nhựa màu vàng; 01 (một) áo thun màu đen, ngắn tay, trên cổ áo có in dòng chữ «THE MEN»; 01 (một) quần kaki lửng màu đen, lai quần có in chữ «GAP THE LIVED-INSLIM».
- Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Trả lại bị cáo Lê Văn H 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh xám, số Imei: 355244/03/204829/5; 01 (một) sim điện thoại số seri 8984048000301838179.
- Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bị cáo Lê Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại Lý Vĩ K vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND Quận 6; - Công an Quận 6; - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - Công an Tp. Hồ Chí Minh (Phòng PV06); - Chi cục THADS Quận 6; - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QLNVLQ đến vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thùy Liên |