- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Hữu Th phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2021/HS-ST Ngày 19-11-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Phƣơng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Ngọc Ánh
2. Ông Đoàn Thanh Phong
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Minh Quân- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phƣơng Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Hữu Th, sinh năm 1965 tại Tiền Giang; CMND 310622532
Nơi cư trú: ấp Bình Kh 2, xã Bình Phục Nh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: giáo viên; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Th sinh năm 1918 (chết) và bà Phan Thị T sinh năm 1920 (chết); vợ Lê Thị Kim Ch sinh năm 1961; 02 con, lớn nhất sinh năm 1992 nhỏ sinh năm 1994; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân tốt; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
+ Người bào chữa cho bị cáo Lê Hữu Th:
Ông Nguyễn Văn T là luật sư- văn phòng Luật sư Hoàng B, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang. (có mặt)
- Bị hại:
Võ Ngọc S, sinh năm 1962; (có mặt)
Nơi cư trú: ấp Bình Kh 2, xã Bình Phục Nh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
- Ngƣời làm chứng:
1. Trần Quốc V, sinh năm 1990; ( vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp Bình Kh 2, xã Bình Phục Nh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
2. Lê Hữu Ph, sinh năm 1974 ; ( có mặt)
Nơi cư trú: ấp Bình Kh 2, xã Bình Phục Nh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
3. Phạm Tuấn K, sinh năm 1992; ( có mặt)
Nơi cư trú: ấp Bình Kh 2, xã Bình Phục Nh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
4. Nguyễn Trung H, sinh năm 1995; ( có mặt)
Nơi cư trú: ấp Bình Q, xã Bình Phục Nh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn trong việc tranh chấp lối đi giữa bị cáo và bị hại, vụ việc đang được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã Bình Phục Nh. Do bị hại Võ Ngọc S dùng lưới B40 kéo ngang phần đất tranh chấp gây cản trở việc đi lại chăm sóc và vận chuyển thanh long ra lộ, nên khoảng 19 giờ ngày 12/01/2021 bị cáo và một số người làm công tháo rào B40 (mở kẽm buộc) để vận chuyển thanh long, khi bị cáo bước qua phần đất tranh chấp thì bị hại cầm 01 khúc gỗ tròn dài 92cm đẩy bị cáo lùi lại. Thấy vậy Lê Hữu Ph bước sang ôm ông S lại từ phía sau và Phạm Tuấn K đến giật lại đoạn cây bị cáo đang cầm nhằm ngăn cản hai người đánh nhau. Quá trình xô xát bị cáo dùng 01 đoạn tre dài 123cm (loại đòn gánh) đánh 01 cái trúng vào vùng đầu bị hại gây thương tích.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 131/2021/TgT ngày 09-3-2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận: “1. Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo vết thương đỉnh chẩm trái. 2. Kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Võ Ngọc Sơn là 01% (một phần trăm).
Tại bản kết luận giám định số 2265/C09B ngày 15-4-2021 của Viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Đoạn gỗ tre (đòn gánh) dài 123cm, hai đầu có mấu, một đầu mấu có kích thước 6,5cm x 8cm, một đầu mấu có kích thước 6,5cm x 7,5cm là hung khí nguy hiểm”.
Bản cáo trạng số 61/CT-VKSCG ngày 16-10-2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang truy tố hành vi của bị cáo Lê Hữu Th đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Hữu Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
* Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm e, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018.
Xử phạt bị cáo Lê Hữu Th từ 06– 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Trách nhiệm bồi thường dân sự: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo pháp luật.
Vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:
+ 01 (một) đoạn gỗ tre (đòn gánh) dài 123 cm, hai đầu có mấu, một đầu mấu có kích thước 6,5cm x 8cm, một đầu mấu có kích thước 6,5cm x 7,5cm;
+ 01 (một) khúc gỗ dài 92 cm (loại gỗ tròn).
Bị hại Võ Ngọc S xác định thương tích trên đầu do 01 mình bị cáo Lê Hữu Th dùng cây (đòn gánh) đánh gây thương tích và thống nhất với kết quả giám định số 131/2021/TgT ngày 09-3-2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Tiền Giang xác định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 01% (một phần trăm). Trách nhiệm dân sự đề nghị bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường:
- 05 trụ rào xi măng, hư 01 đoạn rào B40. Sửa khoảng 1.500.000 đồng.
- Tiền mất thu nhập 30 ngày x 200.000 đồng = 6.000.000 đồng.
- Tiền cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng từ tháng 6/2021 trở về sau.
- Tiền thuốc điều trị 16.409.827 đồng.
Người bào chữa cho bị cáo thống nhất tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo truy tố đối với bị cáo Lê Hữu Th. Phân tích các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo có nhân thân tốt chưa tiền án tiền sự, bản thân bị di chứng xuất huyết não; Bị hại có lỗi; Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại; Bị cáo phạm tội do bị kích động mạnh về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang, Tỉnh đoàn Tiền Giang tặng bằng khen và được Bộ trưởng Bộ giáo dục tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục. Do có nhiều tình tiết giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất và áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự để bị cáo có cơ hội tiếp tục dạy học. Về trách nhiệm dân sự: bị hại yêu cầu các khoảng bồi thường là không có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
+ Những người làm chứng xác định: Do bị cáo thu hoạch thanh long nhưng ông Võ Ngọc S không mở rào (những lần trước có mở để bị cáo vận chuyển thanh long), nên mới xảy ra sự việc. Thống nhất các lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra là đúng không thay đổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định pháp y và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có cơ sở xác định: Do có mâu thuẫn trước đó trong việc tranh chấp lối đi nên bị hại Võ Ngọc S dùng lưới B40 kéo ngang phần đất tranh chấp gây cản trở việc đi lại chăm sóc và vận chuyển thanh long ra lộ, vào khoảng 19 giờ ngày 12/01/2021 bị cáo và một số người làm công tháo rào B40 (mở kẽm buộc) để vận chuyển thanh long, khi bị cáo bước qua phần đất tranh chấp thì bị hại cầm 01 khúc gỗ tròn dài 92cm đẩy bị cáo lùi lại. Thấy vậy Lê Hữu Ph bước sang ôm ông S lại từ phía sau và Phạm Tuấn K đến giật lại đoạn cây bị cáo đang cầm nhằm ngăn cản hai người đánh nhau. Quá trình xô xát bị cáo dùng 01 đoạn tre dài 123cm (loại đòn gánh) đánh 01 cái trúng vào vùng đầu bị hại gây thương tích cho Võ Ngọc S với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 01% (một phần trăm).
Về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi tại thời điểm gây án, nên bị cáo phải trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội đã gây ra.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì:
“ 1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;” Như vậy hành vi dùng đoạn gỗ tre (đòn gánh) đánh vào người bị hại Võ Ngọc S được xác định là bị cáo dùng hung khí nguy hiểm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, gây tỷ lệ tổn thương cơ thể cho bị hại 01% đã đủ yếu tố cấu thành tội “cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe của bị hại, đây là quyền bất khả xâm phạm của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân.
Tuy nhiên do bị hại có hành vi dùng lưới B40 rào ngang phần đất tranh chấp đang được cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết, gây cản trở trong việc vận chuyển thanh long ra lộ lớn tiêu thụ, điều đó làm cho bị cáo không kiềm chế được bản thân nên có tháo rào B40 thì giữa bị cáo và bị hại xảy ra đánh nhau. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc, nhưng chỉ vì nóng giận tức thời, bị cáo đã dùng cây đòn gánh đánh gây thương tích làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của bị hại, điều đó cũng cho thấy ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội để cải tạo giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra; mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện khắc phục, bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có lỗi; bản thân là viên chức (giáo viên) được ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang, Tỉnh đoàn Tiền Giang tặng bằng khen và được Bộ trưởng Bộ giáo dục tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b,e,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, hiện đang là giáo viên giảng dạy tại Trường Trung học cơ sở Bình Phục Nhứt, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, do đó chỉ cần áp dụng mức khởi điểm của khung hình phạt và xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù để cải tạo giáo dục, mà chỉ cần giao bị cáo cho nơi làm việc là Trường Trung học cơ sở Bình Phục Nhứt, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt có ích cho xã hội.
Lời luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và hướng giải quyết về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Lời trình bày và tranh luận của Luật sư bào chữa cho bị cáo, Hội đồng có xem xét khi quyết định.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Gạo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về xử lý vật chứng: cần tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng sau:
+ 01 (một) đoạn gỗ tre (đòn gánh) dài 123 cm, hai đầu có mấu, một đầu mấu có kích thước 6,5cm x 8cm, một đầu mấu có kích thước 6,5cm x 7,5cm;
+ 01 (một) khúc gỗ dài 92 cm (loại gỗ tròn).
Về trách nhiệm dân sự:
+ Bị hại ông Võ Ngọc S yêu cầu bị cáo Lê Hữu Thường bồi thường các khoản:
- 05 trụ rào xi măng, hư 01 đoạn rào B40. Sửa khoảng 1.500.000 đồng.
- Tiền mất thu nhập 30 ngày x 200.000 đồng = 6.000.000 đồng.
- Tiền cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng từ tháng 6/2021 trở về sau.
- Tiền thuốc điều trị 16.409.827 đồng.
Về yêu cầu Tiền thuốc điều trị + tiền xe trong các ngày từ 12-01-2021 đến 04-02-2021 (bao gồm các khoản từ 1 đến 7 của bảng kê khai chi phí điều trị khám chữa bệnh-Bút lục 121) với tổng số tiền 1.761.740 đồng là các chi phí hợp lý theo chỉ định của bác sĩ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với các chi phí gồm tiền xe đi lên Bệnh viện Việt Pháp + viện phí + Chụp hình MRI + thuốc với tổng số tiền 14.648.087 đồng là không thuộc chỉ định của Bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang (yêu cầu chỉ định uống thuốc theo toa, tái khám tại địa phương). Hơn nữa đây là các chi phí điều trị cột sống thắt lưng, sọ não, thuốc trị mỡ máu, viêm mũi dị ứng, tăng trương lực cơ trong đau thắc lưng, thoái hóa khớp, tâm thần thực thể, viêm khớp, chống nhiễm, động kinh, tâm thần phân liệt, loạn thần, trầm cảm... không liên quan đến thương tích do bị cáo gây ra theo Giấy chứng nhận thương tích số 42/CN-BV ngày 27-01-2021 của Bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang xác định tình trạng thương tích:
* Lâm sàng: Vết thương đỉnh chẩm trái # 0,3cm
* Cận lâm sàng: - CT-scan đầu: không máu tụ nội sọ
- Alcol máu: 0 mg/dl
* Phương pháp điều trị: - Khâu vết thương
- Kháng sinh- Giảm đau- Chống phù nề
Do đó không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với yêu cầu tiền thu nhập thực tế bị mất, Hội đồng xét xử xét thấy chỉ có căn cứ xác định thu nhập bị mất từ ngày 13-01-2021 đến 22-01-2021 (10 ngày). Ngoài ra bị hại không cung cấp được chứng cứ, tài liệu để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần.
Về yêu cầu trợ cấp nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng đến về sau này là không có căn cứ theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Đối với 05 cây trụ xi măng ông Sơn yêu cầu bồi thường 1.500.000 đồng. Căn cứ vào biên bản định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự ngày 20-9-2021 xác định giá trị 05 trụ xi măng có chiều dài 02 m, đường kính 12 cm (đã qua sử dụng hơn 01 năm). Giá 45.000 đồng/m x 10 m x 90% = 405.000 đồng. Tuy nhiên không có căn cứ để xác định bị cáo gây thiệt hại. Bị cáo đồng ý hỗ trợ 700.000 đồng, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận.
Từ phân tích trên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của ông Võ Ngọc S, bị cáo Lê Hữu Th phải bồi thường cho bị hại tiền thuốc 1.761.740 đồng, tiền mất thu nhập 2.000.000 đồng, tiền 05 trụ xi măng bị cáo đồng ý 700.000 đồng. Tổng số tiền 4.461.740 đồng. Ngoài ra bị hại ông Võ Ngọc S không yêu cầu các khoản bồi thường nào khác, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Hữu Th tự nguyện đồng ý bồi thường cho bị hại hết số tiền 10.000.000 đồng đã tạm nộp (theo biên lai thu số 0005751 ngày 07-10-2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo). Do đó Hội đồng xét xử cần ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo.
Về án phí: Bị cáo Lê Hữu Th phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Hữu Th phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”
Căn cứ vào khoản 1 Điều 134; điểm b, điểm e, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Lê Hữu Th 06 (sáu) tháng tù, nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Hữu Th cho Trường Trung học cơ sở Bình Phục Nhứt, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục, trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
+ Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Chấp nhận một phần yêu cầu của bị hại ông Võ Ngọc S.
Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo Lê Hữu Th cho bị hại Võ Ngọc S số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng. (Bị cáo Lê Hữu Th đã nộp theo biên lai thu số 0005751 ngày 07-10-2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo) nên xem như đã bồi thường xong.
+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) đoạn gỗ tre (đòn gánh) dài 123 cm, hai đầu có mấu, một đầu mấu có kích thước 6,5cm x 8cm, một đầu mấu có kích thước 6,5cm x 7,5cm;
+ 01 (một) khúc gỗ dài 92 cm (loại gỗ tròn).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29-10-2021)
+ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Lê Hữu Th phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
+ Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Bị cáo, bị hại có mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo; - Cơ quan Điều tra- Công an huyện Chợ Gạo; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo; - Nhà tạm giữ- Công an huyện Chợ Gạo; - Bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Phƣơng |