vanban.org

Bản án 68/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Cái Răng, TP. Cần Thơ Tuyên án 11/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Đoàn Ngọc P phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt: Đoàn Ngọc P 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ: 23/4/2020. Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Cố ý làm hư hỏng tài sản, bị cáo Đoàn Ngọc P - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Đoàn Ngọc P phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN C
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2020/HSST
Ngày: 11/9/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN C

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ Phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Thành Hưng

2. Ông Bùi Thanh Trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Nhâm Thị Thanh Trang - là thư ký Toà án nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Nhủ- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2020, Toà án nhân dân quận C mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2020/HSST ngày 12 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2020/QĐXXST-HS ngày 28/8/2020 đối với bị cáo:

Đoàn Ngọc P, sinh năm 1973; ĐKTT: không nơi đăng ký hộ khẩu thường trú. Chỗ ở: 299 khu vực PM, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ. Nghề nghiệ p: không; Trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đoàn Văn P (chết) và bà: Phạm Thị L (sống); vợ: Lâm Thị D; có 03 con: lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2000; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ ngày 23/4/2020, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đỗ Hồng P – Văn phòng Luật sư L – Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ. Có mặt.

Bị hại: 1/ Anh Nguyễn Duy T; sinh năm: 1984. Địa chỉ: 68 đường D6, Khu dân cư L, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

2/ Anh Nguyễn Duy Tr; sinh năm: 1974. Địa chỉ: 297 khu vực PM, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận C truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 8 giờ ngày 23 tháng 4 năm 2020, Đoàn Ngọc P đang ở tại nhà số 299 khu vực PM, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ, thấy anh Nguyễn Duy Tr điều khiển xe ô tô tải BKS: 65C-086.70 đậu lấn sang phần đất của P nên P yêu cầu anh Tr di dời xe, không cho đậu bên phần đất của mình. Lúc này, giữa Tr và P xảy ra cự cãi nhau nên anh Nguyễn Duy T (em ruột anh Tr) ra can ngăn rồi cùng với Tr xảy ra cự cãi và xô sát với P. Trong lúc cự cãi và xô sát nhau thì P bị thương tích trầy xước phía sau đuôi mài phải. Sau đó, P bỏ vào nhà, còn Tr điều khiển xe ô tô tải BKS: 65C-086.70 đến đậu phía trước đường lộ nhà Tr. Do bị đánh trầy xước nên P tức giận, lượm cục gạch ném qua nhà của T và Tr nhưng không trúng ai; tiếp đến P lượm cục bê tông ném vào phần đầu xe ô tô tải BKS: 65C-086.70 của Tr nhưng không bể xe. Do vậy, P đi về nhà lấy một cây gỗ có chiều dài khoảng 70cm cầm trên tay đập liên tiếp vào phần đầu xe ô tô tải BKS: 65C- 086.70 thì cây gỗ bị gẫy làm đôi. P tiếp tục về nhà lấy cây rựa có cán gỗ tròn dài khoảng 40cm, lưỡi bằng kim loại, mặt sắt dài khoảng 30cm đập vào kính chắn gió phía trước, kính hông bên trái, kính chiếu hậu bên trái, bên phải và ốp đèn chiếu sáng bên trái, bên phải của xe ô tô tải BKS: 65C- 086.70. Sau đó, P thấy xe ô tô con BKS: 95A-018.99 hiệu Toyota Camry 3.0 màu đen của anh Nguyễn Duy T đang đậu ngoài lộ gần đó nên P đi lại tiếp tục dùng cây rựa đập bể kính chắn gió phía trước, kính chắn gió sau, kính hông cửa trước bên trái, kính hông cửa sau bên trái, cụm đèn sau bên trái, bên phải và cốp sau xe biến dạng. Trong lúc P đập phá tài sản thì anh Tr và anh T báo công an đến giải quyết và mời P về làm việc.

Tại cơ quan Công an, P đã khai nhận hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản đúng theo nội dung, diễn biến, sự việc nêu trên.

Tang vật thu giữ: 01 đĩa CD ghi hình; 01 khúc gỗ có kích thước (87x4,5x3,2)cm; 01 khúc gỗ có kích thước (60x3,5x4)cm; 01 khúc gỗ có kích thước (48x3,5x3)cm; 01 cây rựa lưỡi bằng kim loại kích thước (39x6)cm cán gỗ tròn 32cm, đường kính 3,5cm; 01 cục bê tông kích thước (12x9x8)cm; 11 miếng gạch màu đỏ; 01 áo thun ba lỗ màu trắng; 01 quần ngắn sọc đen trắng; 01 đôi dép nhựa quay ngang màu hồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 20/TCKH-HĐĐG ngày 27 tháng 4 năm 2020 của Hội đ định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận C kết luận:

- Xe ô tô hiệu Toyota loại Camry 3.0 đời 2004, BKS 95A-018.99 bị thiệt hại:

+ 01 (một) kính chắn gió trước x 12.863.800đ/kính = 12.863.000đ.

+ 01 (một) kính chắn gió sau 13.169.000đ/kính = 13.169.000đ.

+ 01 (một) kính hông cửa trước bên trái x 4.311.500đ/kính = 4.311.500đ.

+ 01 (một) kính hông cửa sau bên trái x 3.494.000đ/kính = 3.494.000đ.

+ Cụm đèn sau bên trái, bên phải: 9.564.600đ/cụm = 9.564.600đ.

+ Cốp sau xe bị đập biến dạng (tiền công gia cố) 2.000.000đ/cốp = 2.000.000đ.

* Các phụ kiện dùng để thay thế, sửa chữa (Keo sika đen: 180.000đ; nẹp kính chắn gió: 780.600đ, ốp cửa sau bên trái 11.392.400đ): 12.191.000đ.

* Tiền công thay thế các kính: 4.000.000đ.

* Tiền sơn lại các chi tiết: 2.500.000đ.

Cộng thiệt hại xe ô tô hiệu Toyota Camry 3.0 đời 2004, BKS 95A-018.99: 64.093.100đ (chưa thuế) + 6.409.310đ (Thuế VAT) = 70.502.410đ.

- Xe ô tô tải hiệu Huyndai loại K190, BKS 65C-086.70, trọng tải 1900kg bị thiệt hại:

+ 01 (một) kính chắn gió x 950.000đ/kính = 950.000đ.

+ 01 (một) kính hông bên trái x 400.000đ/kính = 400.000đ.

+ Kính chiếu hậu bên trái, bên phải (gương phải 1.120.000đ; gương trái 920.000đ): 2.040.000đ.

+ Ốp đèn chiếu sáng phía trước bên trái, bên phải: 2.100.000đ/đèn x 2 = 4.200.000đ.

* Phụ kiện dùng thay thế, sửa chữa: (Tem của Frontier (125, 140, K2700, K3000): 130.000đ, Tem chữ Thaco - K190: 40.000đ): 170.000đ.

* Công sửa chữa (làm đồng + sơn kính chắn gió: 900.000đ; cửa trái 1.000.000đ): 1.900.000đ.

Cộng thiệt hại xe ô tô tải hiệu Huyndai loại K190, BKS 65C-086.70, trọng tải 1900kg: 9.660.000đ.

Như vậy giá trị tài sản định giá được là: 80.162.410đ.

Quá trình điều tra, Đoàn Ngọc P đã thừa nhận hành vi phạm tội.

Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 106/2020/KLGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2020 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ thuộc Bộ Y tế kết luận:

- Về y học: Trước, trong, sau khi phạm tội và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách cảm xúc không ổn định (F60.3-ICD10).

- Về năng lực: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần.

Tại Công văn số 106.0/PYTT ngày 26 tháng 5 năm 2020 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ thuộc Bộ Y tế về năng lực trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại: Đương sự có năng lực trách nhiệm hình sự.

Đối với thương tích của Đoàn Ngọc P: quá trình điều tra P đã tự nguyện viết đơn không yêu cầu xem xét giải quyết.

Tại Cáo trạng số: 64/CT-VKS-CR ngày 12/8/2020 Viện kiểm sát nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ đã truy tố Đoàn Ngọc P về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã truy tố; đồng ý chịu trách nhiệm hình sự theo Hội đồng xét xử quyết định nhưng không đồng ý bồi thường về trách nhiệm dân sự theo yêu cầu của bị hại vì cho rằng tài sản của công dân sẽ được pháp luật bảo vệ nhưng bị hại đã đậu xe ở lề đường gây ảnh hưởng đến giao thông của người khác và làm hư hỏng nền sân của bị cáo nên tài sản của hại là tài sản không có giá trị và bị cáo phải xử lý di dời ngay tài sản của bị hại là đúng.

Bị hại là anh T chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 50.000.000đ; đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về chăm sóc mẹ già.

Bị hại là anh Tr không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại; đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu kết luận vụ án:

- Hành vi Đoàn Ngọc P cố ý làm hư hỏng tài sản là xe ô tô hiệu Toyota Camry biển số 95A-018.99 của anh Nguyễn Duy T và xe ô tô tải hiệu Huyndai biển số 65C-086.70 của anh Nguyễn Duy Tr vào ngày 23/4/2020, gây ra thiệt hại tổng cộng 80.162.410đ; hành vi của bị cáo đã thực hiện phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản nên việc truy tố bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

- Xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; tại thời điểm phạm tội, bị cáo có bệnh lý rối loạn tâm thần, rối loạn cảm xúc không ổn định nên bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần; tại phiên tòa, bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 178; Điều 38; điểm s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự:

+ Thiệt hại xe ô tô hiệu Toyota Camry 3.0 đời 2004, BKS 95A-018.99 của tổng cộng: 70.502.410đ nhưng anh T chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường 50.000.000đ nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho anh T số tiền 50.000.000đ.

+ Anh Tr không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

- Về tang vật:

+ 01 đĩa CD ghi hình: đề nghị tiếp tục lưu hồ sơ.

+ 01 khúc gỗ có kích thước (87x4,5x3,2)cm; 01 khúc gỗ có kích thước (60x3,5x4)cm; 01 khúc gỗ có kích thước (48x3,5x3)cm; 01 cây rựa lưỡi bằng kim loại kích thước (39x6)cm, cán gỗ tròn 32cm, đường kính 3,5cm; 01 cục bê tông kích thước (12x9x8)cm; 11 miếng gạch màu đỏ; 01 áo thun ba lỗ màu trắng; 01 quần ngắn sọc đen trắng; 01 đôi dép nhựa quay ngang màu hồng: đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

Người bào chữa cho bị cáo: thống nhất tội danh Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử khi lượng hình, xem xét bị cáo có bệnh lý về tâm thần, bị hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; về nhân thân: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; về hoàn cảnh gia đình: bị cáo đang sống với mẹ già chỉ có một mình, không người chăm lo; tại phiên tòa, bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt là 02 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại Phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với biên bản bản ghi nhận tài sản bị thiệt hại ngày 23/4/2020, biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 23/4/2020; lời khai của bị hại là anh Nguyễn Duy Tr và anh Nguyễn Duy T. Do đó, xét thấy có đủ cơ sở để kết luận:

Hành vi Đoàn Ngọc P dùng gạch bê tông, khúc cây gỗ và dùng cây rựa đập vào xe của ô tô tải hiệu Huyndai loại K190, BKS 65C-086.70 của anh Nguyễn Duy Tr và xe ô tô hiệu Toyota Camry 3.0 đời 2004, BKS 95A-018.99 của anh Nguyễn Duy T vào ngày 23/4/2020 tại khu vực PM, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ, hậu quả làm hỏng xe của anh Tr, gây thiệt hại 9.660.000đ, hỏng xe ô tô của anh T gây thiệt hại 70.502.410đ; tổng cộng thiệt hại 80.162.410đ. Hành vi Đoàn Ngọc P cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự là chính xác.

Xét thấy, hành vi bị cáo cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác; đồng thời gây mất trật tự, an toàn xã hội ở địa phương.

Xét thấy, việc bị hại đậu xe ngoài hành lang lộ giới, nếu có vi phạm về việc đậu đỗ xe không đúng quy định pháp luật thì bị cáo phải báo ngay cho cơ quan chức năng để xử lý hành vi vi phạm của bị hại, chứ bị hại không được tự ý giải quyết dẫn đến việc xô xát giữa bị cáo với bị hại làm cho bị cáo bị trầy xước phía sau đuôi mài phải. Tuy nhiên, hành vi đó đã chấm dứt nhưng bị cáo không kiềm chế được cảm xúc của mình, không có khả năng kiểm soát bùng nổ hành vi dẫn đến việc bị cáo dùng gạch đập vào xe anh Tr nhưng vẫn chưa thỏa mãn, tiếp đó, bị cáo về nhà dùng khúc gỗ đập xe anh Tr, khúc gỗ bị gãy; bị cáo lại tiếp tục đi về nhà lấy khúc gỗ khác đập vào xe anh Tr và khúc gỗ bị gãy; bị cáo lại tiếp tục quay về nhà lấy cây dao tự chế (loại dao rựa) trở ra đập xe anh Tr; tiếp đến, bị cáo phát hiện xe của anh T là người nhà của anh Tr nên tiếp tục đập xe ô tô của anh T. Tuy bị cáo có bệnh lý tâm thần, rối loạn cảm xúc không ổn định nhưng tại thời điểm thực hiện tội phạm, bị cáo là người trưởng thành, đủ năng lực để chịu trách nhiệm về hành vi của mình, bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, cho thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù để giáo dục cho bị cáo biết tôn trọng pháp luật, tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người khác và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy khi lượng hình cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo như sau: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; tại thời điểm phạm tội, bị cáo có bệnh lý tâm thần, rối loại nhân cách, cảm xúc không ổn định nên bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình; tại phiên tòa, bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự:

+ Thiệt hại xe ô tô hiệu Toyota Camry 3.0 đời 2004, BKS 95A-018.99 của anh T, tổng cộng: 70.502.410đ. Tuy nhiên, anh T chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 50.000.000đ, xét thấy đây là sự tự nguyện của anh T và không trái quy định pháp luật nên cần buộc bị cáo phải bồi thường cho anh T số tiền 50.000.000đ.

+ Đối với thiệt hại xe ô tô tải hiệu Huyndai loại K190, BKS 65C-086.70 của anh Tr: 9.660.000đ nhưng anh Tr không yêu cầu bồi thường nên không giải quyết.

Về vật chứng:

+ 01 đĩa CD ghi lại hình ảnh phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lưu hồ sơ.

+ 01 khúc gỗ có kích thước (87x4,5x3,2)cm; 01 khúc gỗ có kích thước (60x3,5x4)cm; 01 khúc gỗ có kích thước (48x3,5x3)cm; 01 cây rựa lưỡi bằng kim loại kích thước (39x6)cm, cán gỗ tròn 32cm, đường kính 3,5cm; 01 cục bê tông kích thước (12x9x8)cm, 11 miếng gạch màu đỏ: là công cụ phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy.

+ 01 áo thun ba lỗ màu trắng; 01 quần ngắn sọc đen trắng; 01 đôi dép nhựa quay ngang màu hồng: là trang phục của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000đ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 178; điểm s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Đoàn Ngọc P phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt: Đoàn Ngọc P 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ: 23/4/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ vào: Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 589; Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự;

Buộc Bị cáo Đoàn Ngọc P phải bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Duy T số tiền: 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

Kể từ khi anh T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đối với thiệt hại của anh Nguyễn Duy Tr, anh Tr không có yêu cầu bồi thường nên không giải quyết.

3. Về vật chứng:

Căn cứ vào: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

+ Tiếp tục lưu hồ sơ: 01 đĩa CD ghi lại hình ảnh phạm tội của bị cáo.

+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 khúc gỗ có kích thước (87x4,5x3,2)cm; 01 khúc gỗ có kích thước (60x3,5x4)cm; 01 khúc gỗ có kích thước (48x3,5x3)cm; 01 cây rựa lưỡi bằng kim loại kích thước (39x6)cm, cán gỗ tròn 32cm, đường kính 3,5cm; 01 cục bê tông kích thước (12x9x8)cm, 11 miếng gạch màu đỏ.

+ Trả lại cho bị cáo: 01 áo thun ba lỗ màu trắng; 01 quần ngắn sọc đen trắng; 01 đôi dép nhựa quay ngang màu hồng.

4. Về án phí:

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án và danh mục án phí;

Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

6. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án. Quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ