vanban.org

Bản án 68/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Nông Tuyên án 25/08/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/08/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hồ Minh T, Dư Phát X và Nguyễn Văn C, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2020/HS-ST ngày 24/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông về phần hình phạt đối với các bị cáo Hồ Minh T, Dư Phát X và Nguyễn Văn C.

1. Xử phạt bị cáo Hồ Minh T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 10/4/2019 đến ngày 19/4/2019. 2. Xử phạt bị cáo Dư Phát X 04 (bốn) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, thời hạn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Minh T và đồng phạm - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hồ Minh T, Dư Phát X và Nguyễn Văn C, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2020/HS-ST ngày 24/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông về phần hình phạt đối với các bị cáo Hồ Minh T, Dư Phát X và Nguyễn Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 170 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2020/HS-PT
Ngày 25/8/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đức Thọ.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Chiến và bà Bùi Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Trang, là Thư ký viên của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Trần Duy Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2020/TLPT-HS ngày 29 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo Hồ Minh T và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2020/HS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Hồ Minh T (tên gọi khác: B), sinh năm 1998 tại thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Thôn 02, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Minh H (đã chết) và bà Cao Thị Quỳnh G (sinh năm 1974); nhân thân: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 94/2016/HS-PT ngày 20/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong bản án; bị bắt tạm giữ từ ngày 10/4/2019 đến ngày 19/4/2019 được tại ngoại – Có mặt.

2. Dư Phát X, sinh năm 1978 tại tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: Số A, tổ 06, khu phố 07, phường T, quận X, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Thợ mộc; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Dư Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị N (sinh năm 1947); có vợ là Trần Thị Thu H (sinh năm 1983) và có 01 con (sinh năm 2011); nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 66/HSST ngày 20/8/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xử phạt 15 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 30/2006/HSPT ngày 10/5/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 131/2012/HSST ngày 21/6/2012 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, đã chấp hành xong các bản án và được xóa án tích; bị bắt tạm giữ từ ngày 10/4/2019, đang bị tạm giam – Có mặt.

3. Nguyễn Văn C (tên gọi khác: C C), sinh năm 1986 tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Thôn 03, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Đ (sinh năm 1964) và bà Trần Thị L (sinh năm 1964); có vợ là Trần Thị Kiều T (sinh năm 1991, đã ly hôn) và có 02 con (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2015); tiền sự: Tại Quyết định số: 33/QĐ-UBND ngày 04/3/2019 của Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã Q trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày 04/3/2019 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 102/2007/HSST ngày 22/8/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”, đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2019 đến ngày 27/5/2019 và từ ngày 05/11/2019 đến ngày 19/12/2019; tại ngoại – Có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Ngọc Mỹ C; địa chỉ: Thôn M, xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Minh N; địa chỉ: Thôn 03, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 4/2019, Trương Văn Đ và Nguyễn Văn C rủ nhau chặn đường các thương lái thu mua sầu riêng trên địa bàn xã Q và xã H, huyện Đ để đe dọa và yêu cầu muốn mua sầu riêng thì phải “làm luật” với Đ và C, tức là phải đóng cho Đ và C 2.000 đồng/ 01kg sầu riêng thu mua được, nếu không sẽ chặn xe, uy hiếp và gây sức ép không cho thu mua sầu riêng trên địa bàn. Sau đó Đ, C rủ Dư Phát X, Phùng Đức Lê M, Hồ Minh T, Nguyễn Đình Nhật Th, Trần Đình V cùng tham gia. C thuê xe ô tô biển kiểm soát Y và xe ô tô biển kiểm soát Z của ông Đặng Minh N để làm phương tiện đi chặn các xe chở sầu riêng và 04 con dao các loại để trên xe ô tô biển kiểm soát Y để sử dụng nếu xảy ra xô xát. Đ phân công M, T, Th, V đi vào khu vực đường liên xã thuộc thôn 01, xã Q, huyện Đ để canh xe chở sầu riêng từ trong các thôn đi ra, nếu phát hiện xe chở sầu riêng thì chặn lại và gọi điện cho Đ, C và T đi vào “làm luật”.

Khoảng 16 giờ ngày 10/4/2019, M, T, Th, V điều khiển xe ô tô kiểm soát Y vào đường liên xã thuộc thôn 01, xã Q thì phát hiện xe ô tô biển kiểm soát L của chị Nguyễn Ngọc Mỹ C chở sầu riêng đi ra. Th điều khiển xe ô tô đuổi theo chặn xe lại rồi gọi điện báo cho Đ, C, T đi vào. Đ yêu cầu chị C đóng 2.000 đồng/01 kg sầu riêng nhưng chị C không đồng ý và gọi điện cho anh Nguyễn Minh Nh vào để nói chuyện với nhóm của Đ. Khi anh Nh đi vào và hỏi có chuyện gì thì Đ và C lao vào đánh anh Nh. Anh Nh bỏ chạy ra phía sau xe ô tô của mình thì M, Th, V, T chạy ra phía sau xe ô tô biển kiểm soát Y lấy dao, mã tấu. Cùng lúc này có Công an xã Q đi đến nên cả nhóm lên xe đi ra ngoài đường Quốc lộ 14. Nhóm M, T, Th, V đi về phòng trọ của Đ tọa lạc tại thôn 03, xã Q thì C gọi điện nói M, Th quay lại xin số điện thoại của chị C để Đ gọi điện nói chuyện. M, Th xin số điện thoại của chị C xong đi ra thì gặp xe của Đ đang đi vào. C nói M, Th về lấy xe ô tô chở T, V đi vào. Đ điều khiển xe ô tô đi đến cách xe ô tô của chị C khoảng 200m thì dừng lại và gọi điện nói chuyện với chị C về việc “làm luật”. Chị C sợ nhóm của Đ gây khó khăn cho việc làm ăn nên đồng ý đưa cho Đ 4.000.000 đồng, Đ đưa lại cho C và quay đầu xe đi ra thì bị Công an huyện Đ bắt quả tang.

Quá trình điều tra các đối tượng còn khai nhận: Vào ngày 06/4/2019, M, T, Th, V chặn xe chở sầu riêng của anh Hoàng Anh N, sau đó gọi C vào nói chuyện với anh N. C sẽ đi tìm vườn bán sầu riêng để báo cho anh N vào mua và được anh N cho 1.000.000 đồng. Ngày 09/4/2019, M, T, Th, V thấy anh Đinh Văn S, anh Nguyễn Văn A, anh Nguyễn Văn D và anh B chở sầu riêng đi ra hướng đường Quốc lộ 14 thì yêu cầu dừng xe lại và gọi điện cho Đ, C và Dư Phát X vào nói chuyện. Đ, C, M dùng tay, chân đánh anh S và anh A nhưng không gây thương tích. Sau đó, biết nhóm của anh S chở sầu riêng để gửi về quê nên nhóm của Đ cho đi không yêu cầu đóng tiền “làm luật”.

Vật chứng thu giữ gồm: Số tiền 3.975.000 đồng; 01 chiếc rựa, cán tre dài 60cm, lưỡi sắt dài 20cm, rộng 05cm, mũi bằng; 01 chiếc rựa cán tre dài 25cm, lưỡi sắt dài 25cm, rộng 05cm, mũi cong; 01 dao cán sắt dài 20cm, lưỡi dao dài 25cm, bản dao rộng 05cm, mũi cong; 01 dao dài 50cm, cán sắt dài 15 cm, lưỡi dài 35cm, rộng 04cm và 01 con dao cán nhựa màu vàng dài 22cm, lưỡi dài 12cm; 01 xe ô tô biển kiểm soát Y và 01 xe ô tô biển kiểm soát Z.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2020/HS-ST ngày 24/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Trương Văn Đ, Nguyễn Văn C, Dư Phát X, Phùng Đức Lê M, Hồ Minh T, Nguyễn Đình Nhật Th và Trần Đình V phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 04 năm 03 tháng tù; bị cáo Dư Phát X 04 năm tù; bị cáo Hồ Minh T 03 năm 03 tháng tù.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo Trương Văn Đ, Phùng Đức Lê M, Nguyễn Đình Nhật Th, Trần Đình V; quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 01/7/2020, các bị cáo Hồ Minh T và Nguyễn Văn C cùng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 06/7/2020, bị cáo Dư Phát X kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông: Sau khi phân tích nội dung vụ án đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Hồ Minh T, Dư Phát X và Nguyễn Văn C.

Các bị cáo không bào chữa, tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tội danh: Khoảng 17 giờ ngày 10/4/2019, tại đường liên xã thuộc thôn 01, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Hồ Minh T, Dư Phát X và Nguyễn Văn C đã có hành vi cùng một số đối tượng khác sử dụng nhiều người để uy hiếp tinh thần, chiếm đoạt của chị Nguyễn Ngọc Mỹ C số tiền 4.000.000 đồng. Ngoài ra, các bị cáo còn chặn xe của anh Hoàng Anh N vào ngày 06/4/2019 và chặn xe của nhóm anh Đinh Văn S vào ngày 09/4/2019 nhằm mục đích thu tiền “làm luật”, tuy chưa có hậu quả xảy ra nhưng đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn huyện Đ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm đ khoản 2 Điều 170 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Hồ Minh T, Dư Phát X và Nguyễn Văn C, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo đều có nhân thân xấu, C là người khởi xướng việc phạm tội, X và T là người thực hành tích cực. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, X 04 (bốn) năm tù, C 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù là tương xứng với tính chất, vai trò, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Hồ Minh T, Dư Phát X và Nguyễn Văn C.

. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hồ Minh T, Dư Phát X và Nguyễn Văn C, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2020/HS-ST ngày 24/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông về phần hình phạt đối với các bị cáo Hồ Minh T, Dư Phát X và Nguyễn Văn C.

1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

1.1. Xử phạt bị cáo Hồ Minh T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 10/4/2019 đến ngày 19/4/2019.

1.2. Xử phạt bị cáo Dư Phát X 04 (bốn) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 10/4/2019.

1.3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2019 đến ngày 27/5/2019 và từ ngày 05/11/2019 đến ngày 19/12/2019.

2. Về án phí: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Hồ Minh T, Dư Phát X và Nguyễn Văn C phải chịu mỗi bị cáo 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ