- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyen thi cam n - Mai pham bao dinh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm N.
- Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2020/HNGĐ-ST Ngày 30 tháng 6 năm 2020 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Ni.
Các Hội thẩm nhân nhân dân:
1. Ông Võ Quí Quốc.
2. Bà Lê Thị Minh Thắm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phạm Vân Trang - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Cẩm Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:
(Có mặt chị Nhung, vắng mặt anh Định)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 13/02/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Cẩm N trình bày: Chị và anh Mai Phạm Bảo Đ tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh V vào ngày 13/11/2006. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 6 năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi vả lẫn nhau, anh Đ không lo chăm sóc gia đình và có vài lần đánh đập chị. Đến cuối năm 2017 thì mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng ly thân cho đến nay. Trong thời gian ly thân, anh Đ không phụ giúp chị nuôi dưỡng con nhỏ. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Mai Phạm Bảo Đ.
Về con chung: Có 02 con chung là Mai Phạm Bảo H, sinh ngày 29/6/2009 và Mai Phạm Bảo A, sinh ngày 02/8/2018. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu A, không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi cháu A; yêu cầu giao cháu H cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi cháu H.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản khai ngày 25/5/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là anh Mai Phạm Bảo Đ trình bày: Tôi đồng ý với ý kiến của chị N về thời điểm chung sống như vợ chồng, thời điểm đăng ký kết hôn, thời điểm phát sinh mâu thuẫn và thời điểm ly thân. Do công việc làm ăn thất bại nên vợ chồng đã bán nhà vào năm 2018, chị N và con nhỏ về nhà cha mẹ ruột sống. Vợ chồng không có mâu thuẫn gì trầm trọng. Nay anh còn thương vợ con và mong muốn hàn gắn nên không đồng ý ly hôn với chị N.
Về con chung: Có 02 con chung là Mai Phạm Bảo H, sinh ngày 29/6/2009 và Mai Phạm Bảo A, sinh ngày 02/8/2018. Khi ly hôn, anh đồng ý giao cháu A cho chị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi cháu A; anh đồng ý trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H, không yêu cầu chị Ncấp dưỡng nuôi cháu Hân.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa:
Chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Anh Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến phiên tòa mà không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử và các đương sự từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử chuẩn bị nghị án đều đúng theo trình tự do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Riêng bị đơn không tuân thủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát cho rằng yêu cầu khởi kiện của chị N là có căn cứ và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N, giao cháu Mai Phạm Bảo H cho chị Nhung trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi cháu A, giao cháu Mai Phạm Bảo H cho anh Đ nuôi dưỡng theo nguyện vọng và đảm bảo sự ổn định cuộc sống của cháu H, chị N không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi thẩm tra xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nghe lời trình bày và phát biểu tranh luận của đương sự, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp: Chị N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Đ nên đây là tranh chấp ly hôn được quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2] Bị đơn anh Mai Phạm Bảo Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến phiên tòa mà không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm N và anh Mai Phạm Bảo Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh V cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn năm 2006 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo Điều 11 và Điều 12 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Xét thấy, hiện tại chị N trình bày không còn tình cảm, không muốn tiếp tục chung sống đời sống vợ chồng với anh Đ nên đã nộp đơn ly hôn và tại phiên tòa vẫn cương quyết ly hôn. Anh Đ đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến phiên tòa nên đã mặc nhiên từ bỏ cơ hội hàn gắn và không đưa ra được một biện pháp cụ thể nào để hàn gắn lại mối quan hệ vợ chồng. Đời sống vợ chồng giữa anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, cả hai không còn yêu thương quan tâm chăm sóc lẫn nhau và đã ly thân từ cuối năm 2017 cho đến nay. Nhận thấy đời sống chung của anh chị không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh chị có 02 con chung là Mai Phạm Bảo H, sinh ngày 29/6/2009 và Mai Phạm Bảo A, sinh ngày 02/8/2018. Tại phiên tòa chị N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu A, không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi cháu A; yêu cầu giao cháu H cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi cháu H. Xét thấy, hiện nay cháu A đang sống với chị N, cháu H đang sống với anh Đ, cháu H có nguyện vọng được sống với anh Đ và cháu A chưa đủ 36 tháng tuổi. Vì vậy, để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện, ổn định về tâm lý của cháu H và cháu A thì Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu H cho anh Đ tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giao cháu A cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi cháu A, chị N không phải cấp dưỡng nuôi cháu H.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 11 và Điều 12 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm N.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm N được ly hôn với anh Mai Phạm Bảo Đ;
- Về con chung: Giao cháu Mai Phạm Bảo H, sinh ngày 29/6/2009 cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị N không phải cấp dưỡng nuôi cháu H. Giao cháu Mai Phạm Bảo A, sinh ngày 02/8/2018 cho chị N trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi cháu A.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Cẩm N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Chị N đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001099 ngày 13/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, nên xem như đã nộp xong án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TP Mỹ Tho; - Chi cục THADS TP Mỹ Tho; - UBND xã B, huyện L, tỉnh V - Lưu hồ sơ vụ án. Thành viên Hội đồng xét xử | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Huyền Ni Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |