vanban.org

Bản án 68/2019/HSST — Hình sự

TAND Quận 5, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 17/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 02 năm 2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2019/HSST
Ngày: 17/7/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Tăng

Ông Lâm Văn Vô

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Võ Cao Hoàng Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 17 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2019/HSST ngày 06/6/2019, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2019/HSST-QĐ ngày 03 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 03 tháng 6 năm 1969 tại: Hà Nội; giới tính: Nam; Thường trú: 100R1 đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyên quán: Bình Định; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Duy N; con bà: Hoàng Thị Bích N; Có vợ tên Phan Thị Thu H; Có 01 (một) người con sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 21/6/1988 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”; Ngày 24/01/2014, bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2019 (Có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Lương Đình T, sinh năm 1997 (vắng mặt)

Nơi cư trú: 347/12A/5 đường M, Phường N, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 27/02/2019, Lương Đình T (là bạn bè quen biết ngoài xã hội của Nguyễn Tuấn A) điều khiển xe gắn máy hiệu Honda SH biển số 29P1-678.99 đến nhà A tại địa chỉ 100R1 đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh rủ A đi uống cà phê. Do bận chăm sóc mẹ già bệnh nằm ở nhà nên A kêu T vào nhà ngồi chơi đợi một chút, một lúc sau thì có một người tên Cúc (không rõ lai lịch) là bạn ngoài xã hội của A gọi điện rủ A đến nhà trọ của Cúc chơi và lấy loa nghe nhạc về sử dụng, vì trưa ngày 27/02/2019 Cúc đi định cư ở nước ngoài. Sau khi nghe điện thoại của Cúc xong thì A kêu Tùng chở đến nhà Cúc ở hẻm trên đường Lý Thái Tổ, Quận 3. Đến nơi thì A và Tùng vào gặp Cúc và cả ba ngồi hát karaoke. Một lúc sau thì Cúc nói với A phải đi ra sân bay để đi nước ngoài nên kêu A mang loa nhạc về nhà sử dụng. A và Tùng mang loa đi ra xe chở về. Tùng đi ra trước còn A đi ra sau, lúc này Cúc kêu A lại gần và đưa cho A 01 (một) hộp giấy có dán băng keo kín và 01 bịch nylon chứa chất bột màu trắng, Cúc có nói cho A biết 01 (một) bịch nylon chứa chất bột màu trắng là ma túy. A cất 01 (một) bịch nylon chứa chất bột màu trắng vào trong túi áo mục đích để dành sử dụng rồi đi ra ngoài xe đưa 01 (một) hộp giấy có dán băng keo cho T cầm cùng với loa nhạc để A lấy xe chở Tùng về nhà. Trên đường về nhà, khi A chở T đến trước số 143 Hùng Vương, Phường 4, Quận 5 thì bị Công an tiến hành kiểm tra phát hiện túi áo của A có 01 (một) bịch nylon bên trong có chứa tinh thể không màu nên tiến hành đưa cả hai về Công an Phường 4, Quận 5 lập biên bản phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 5, Nguyễn Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nylon chứa chất bột màu trắng được gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Tuấn A và hình dấu Công an Phường 4, Quận 5 (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4336g (không phẩy bốn ba ba sáu gam), loại Methamphetamine. Sau giám định số ma túy còn lại được gói niêm phong số 643/2019/Q5 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Huỳnh Thanh Thảo và điều tra viên Ngô Hồng Quân.

01 (một) điện thoại di động màu vàng, hiệu Nokia, số Imei: 353790/04/465351/6 (có pin và sim); 01 (một) điện thoại di động màu xanh, hiệu SamSung, số Imei: 357458/06/500975/1 (có sim); 01 (một) loa karaoke; 01 (một) hộp giấy hình vuông màu đỏ; 05 (năm) phễu thủy tinh và 01 (một) dao bấm; 01 (một) xe gắn máy biển số 29P1-67899, số khung: RLHKF2512GY040418, số máy: KF26E-0040469.

Tại bản Kết luận giám định số 643/KLGĐ-H ngày 07 tháng 3 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 (một) gói nylon chứa chất bột màu trắng được gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Tuấn A và hình dấu Công an Phường 4, Quận 5 (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4336g (không phẩy bốn ba ba sáu gam), loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số: 70/CT-VKS ngày 03/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Tuấn A đã có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy với khối lượng 0,4336g (không phẩy bốn ba ba sáu gam), loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A với mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Tuấn A không có ý kiến tự bào chữa, tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 5, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa công khai, bị cáo Nguyễn Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Nguyễn Tuấn A đã có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy với khối lượng 0,4336g (không phẩy bốn ba ba sáu gam), loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng là đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết việc tàng trữ trái phép các chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại; gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và đấu tranh phòng chống tội phạm, ngoài ra còn có thời gian để bị cáo cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội không có tiền án, tiền sự. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội, đồng thời đủ sức răn đe đối với những người khác có hành vi tương tự.

Về hình phạt bổ sung: Xét cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Tuấn A là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Đối với Lương Đình T khai không biết bị cáo Nguyễn Tuấn A tàng trữ chất ma túy, lời khai của Tùng phù hợp với lời khai của bị cáo Anh và tài liệu chứng cứ khác đã thu thập nên không có cơ sở xử lý đối với Tùng.

Đối với tên Cúc là người mà bị cáo A khai đã đưa ma túy cho bị cáo A sử dụng, hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ và Cơ quan điều tra đang tiếp tục truy xét, khi nào bắt được xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

01 (một) gói nylon chứa chất bột màu trắng được gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Tuấn A và hình dấu Công an Phường 4, Quận 5 (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4336g (không phẩy bốn ba ba sáu gam), loại Methamphetamine. Sau giám định số ma túy còn lại được gói niêm phong số 643/2019/Q5 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Huỳnh Thanh Thảo và điều tra viên Ngô Hồng Quân. Xét đây là vật phạm pháp, Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

01 (một) điện thoại di động màu vàng, hiệu Nokia, số Imei: 353790/04/465351/6 (có pin và sim); 01 (một) điện thoại di động màu xanh, hiệu SamSung, số Imei: 357458/06/500975/1 (có sim); 01 (một) loa karaoke. Xét đây là tài sản do bị cáo quản lý, sử dụng và có quyền định đoạt phù hợp với quy định của pháp luật, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo Anh.

01 (một) hộp giấy hình vuông màu đỏ; 05 (năm) phễu thủy tinh và 01 (một) dao bấm. Xét các vật dụng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

01 (một) xe gắn máy biển số 29P1-67899, số khung: RLHKF2512GY040418, số máy: KF26E-0040469 thu giữ của Lương Đình T, T khai mua chiếc xe máy của người đàn ông không rõ lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 5 đã bàn giao chiếc xe trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh vì chiếc xe là vật chứng trong vụ án trộm cắp tài sản mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đang điều tra giải quyết theo thẩm quyền. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 01 (một) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 02 năm 2019.

Căn cứ Khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn A nộp phạt bổ sung số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a, c Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói nylon chứa chất bột màu trắng được gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Tuấn A và hình dấu Công an Phường 4, Quận 5 (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4336g (không phẩy bốn ba ba sáu gam), loại Methamphetamine. Sau giám định số ma túy còn lại được gói niêm phong số 643/2019/Q5 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Huỳnh Thanh Thảo và điều tra viên Ngô Hồng Quân; 01 (một) hộp giấy hình vuông màu đỏ; 05 (năm) phễu thủy tinh và 01 (một) dao bấm.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tuấn A: 01 (một) điện thoại di động màu vàng, hiệu Nokia, số Imei: 353790/04/465351/6 (có pin và sim); 01 (một) điện thoại di động màu xanh, hiệu SamSung, số Imei: 357458/06/500975/1 (có sim); 01 (một) loa karaoke.

(Hiện vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/6/2019).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ