- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Trần Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THUỶ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2019/HS-ST Ngày: 21/8/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Hoàng Văn Tý.
2/ Bà Huỳnh Thị Lài.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huỳnh Phƣơng - Thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Tô Nguyễn Mộng Lành – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 8 năm 2019, tại Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 440/2019/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Ngọc T, sinh năm 1960 tại VL; nơi đăng ký thường trú: Số 29/5D, khóm 1, phường 3, thành phố VL, tỉnh VL; Chỗ ở Như trên; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Văn Trương (chết) và bà Trần Thị Thi (chết); anh, chị, em ruột có 04 người; chồng Nguyễn Minh Trí, sinh năm 1969 và 03 người con.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
*Người bị hại: Bà Nguyễn Bích Nh, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Số 55/4, khu vực Bình Phó A, phường LT, quận BT, thành phố CT. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt Nh sau:
Vào ngày 11/01/2019 Trần Ngọc T và 01 người phụ nữ tên L đón xe đi đến thành phố CT tìm kiếm các cửa hàng bán quần áo may sẵn mục đích để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến chợ LH thuộc phường LH, quận BT thành phố CT cả hai nói xe ôm dừng lại chờ, còn T và L (xách theo giỏ) đi bộ đến cửa hàng quần áo trẻ em hiệu Supen tại Tổ 09, chợ Rạch Cam, khu vực Bình Dương, phường LH, quận BT, thành phố CT do chị Nguyễn Bích Nh làm chủ. Khi vào trong, Trần Ngọc T giả vờ hỏi mua bộ đồ cho bé trai khoảng 42 ký nhưng chị Nh nói không có size 42 ký, T tiếp tục lựa chọn và cầm trên tay một chiếc áo khoác của bé gái mục đích vừa làm cho chị Nh mất tập trung vừa cản trở tầm nhìn để cho L đứng phía sau nhanh chóng lấy trộm quần áo bỏ vào giỏ xách mang đi, liên tục trong khoảng thời gian 30 phút với thủ đoạn lập lại tương tự, Trần Ngọc T và L lấy được khoảng hơn 100 (Một trăm) cái quần áo trẻ em các loại. Sau khi lấy trộm được tài sản thì T và L tiếp tục thuê xe ôm đi về tỉnh tỉnh VL, khi đến đoạn Khu công nghiệp Hòa Phú, Quốc lộ 1A, huyện LH, tỉnh VL cả hai xuống xe và bán số quần áo trộm được cho khách đi đường được số tiền 02 triệu đồng, T và L chia đều mỗi người 01 triệu đồng. T sử dụng số tiền có được từ việc trộm cắp tài sản để mua thuốc điều trị bệnh tim.
Căn cứ vào Bản kết luận định giá số 13/BKL-HĐĐG, ngày 25/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thì số tài sản bị mất là 119 cái quần áo trẻ em các loại có tổng giá trị là 12.992.000 đồng (Mười hai triệu chín trăm chín mươi hai nghìn đồng).
Qua điều tra, Trần Ngọc T đã thừa nhận hành vi phạm tội và đã bồi thường thiệt hại 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) cho bị hại và chị Nguyễn Bích Nh đã làm đơn bãi nại và không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Ngọc T.
T khai quen biết L khi đi chữa bệnh tại Bệnh viện Chợ Rẫy, thành phố Hồ Chí Minh khoảng tháng 12/2018, T không biết rõ họ tên, địa chỉ và số điện thoại của L. Do chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể của đối tượng tên L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận BT sẽ tiến hành xác minh xử lý sau.
Tại Cáo trạng số 69/CT-VKSBT ngày 25/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận BT, thành phố CT đã truy tố bị cáo Trần Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay:
Bị cáo Trần Ngọc T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo đã ăn năn, hối cải. Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cáo đang bị bệnh tim.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thuỷ, thành phố CT vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố về tội danh và điều khoản áp dụng. Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội và xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác gây mất trật tự trị an ở địa phương, giữa bị cáo và L có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ trong thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng Nh tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T có thái độ khai báo rõ ràng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cho thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 tuyên bị cáo từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù giam.
Về xử lý vật chứng: Không.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo đang bị bệnh và không có thu nhập.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận BT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận BT, thành phố CT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên toà sơ thẩm hôm nay phù hợp với các biên bản ghi lời khai và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ xác định khoảng 06 giờ ngày 11/01/2019 bị cáo cùng L đến Shop quần áo của chị Nguyễn Bích Nh tại chợ Rạch Cam, khu vực Bình Dương, phường LH, quận BT, thành phố CT giả vờ mua quần áo. Bị cáo lựa chọn quần áo và gây sự chú ý để cho L có cơ hội lấy quần áo trẻ em trong cửa hàng của chị Nh. Theo kết luận định giá số 13/BKL-HĐĐG, ngày 25/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thì số tài sản bị mất là 119 cái quần áo trẻ em các loại có tổng giá trị 12.992.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận BT truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ.
Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Trần Ngọc T là người đã trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật Nhng vì không muốn lao động mà lại muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cùng L giở thủ đoạn tinh vi là bị cáo hỏi mua và tìm cách phân tán sự chú ý của chủ cửa hàng để cho L dễ dàng thực hiện việc trộm cắp, khi lấy được tài sản bị cáo và L đem tài sản đi tiêu thụ để lấy tiền tiêu xài. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác gây mất trật tự trị an ở địa phương nên cần phải xử lý nghiêm.
Về nhân thân: Bị cáo đã nhiều lần bị Công an bắt về tội trộm cắp và từng có tiền án về tội trộm cắp tài sản. Tuy đã được xóa án tích nhưng không thể xem bị cáo có nhân thân tốt, nên cần có một mức án nghiêm khắc để giáo dục, răn đe bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo rõ ràng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cho thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo; gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo khi lượng hình.
Về xử lý vật chứng: Không.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có thu nhập và đang bị bệnh.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng:
Khoản 1 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Trần Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Trần Ngọc T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về xử lý vật chứng: Không.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo; người bị hại được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương để xin Tòa án nhân dân thành phố CT xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| * Nơi nhận: - TAND TP. CT; - VKSND Q. BT, TP. CT; - VKSND TP. CT; - Thi hành án DS Quận BT; - Sở Tư pháp TP.CT; - Nhà tạm giữ - CA Q.BT; - Bị cáo; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hà |