- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn Bẩy - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC - TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2019/HS-ST Ngày: 24/9/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Yến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Nam và bà Nguyễn Thị Lan
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2019 tại hội trường khu 7, thị trấn Gia Lộc, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương , Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2019/HSST ngày 10 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Đặng Văn B, sinh năm 1990, tại Thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Nơi cư trú: A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Đặng Văn S và bà: Bùi Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Chưa;
Tiền án: Có 03 tiền án chưa được xóa án tích.
- Bản án số 65A ngày 16/12/2010, Đặng Văn B bị TAND huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xử phạt 20 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản (tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 14.032.600 đồng). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/3/2011. Chưa được xóa án tích.
- Bản án số 40 ngày 14/9/2012, B bị TAND huyện Tứ kỳ xử phạt 27 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản (giá trị tài sản chiếm đoạt là 15.970.000đồng). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/7/2014, chưa chấp hành trách nhiệm dân sự, án phí, chưa được xóa án tích.
- Bản án số 53 ngày 28/9/2015 của TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xử phạt 30 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản với tình tiết tăng nặng là tái phạm nguy hiểm theo điểm c khoản 2 Điều 138 của BLHS. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 17/11/2017, chưa chấp hành trách nhiệm dân sự, án phí. Hiện chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/7/2019 đến ngày 09/7/2019 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Kim Chi- Công an tỉnh Hải Dương cho đến nay (có mặt).
- Bị hại: Chùa N, khu A, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương.
Đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Duy C - Trưởng khu A, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trương Thị T (pháp danh Thích Diệu D), sinh năm 1977 - Là sư trụ trì chùa N.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng
1.Anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1995; Địa chỉ: L, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
2. Chị Mai Thị Thu H (pháp danh Thích Liên D), sinh năm 1993; Địa chỉ: Chùa N, khu A, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương.
3. Anh Hoàng Minh T, sinh năm 1976; trú tại: Thôn M, xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương.
4. Bà Dương Thị L (pháp danh Thích Liên T) sinh năm 1985; Dịa chỉ Chùa N, khu A, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương.
Tất cả người làm chứng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đặng Văn B đã tái phạm nguy hiểm về tội trộm cắp tài sản. Khoảng 06 giờ ngày 04/7/2019, B mặc áo màu đen- trắng, quần đen, đeo khẩu trang, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda-Wave, màu trắng – đen, BKS: 34B3- 023.05, đội mũ bảo hiểm màu đỏ (chiếc xe máy và mũ bảo hiểm B mượn của anh Ngô Văn Đ - SN 1995 trú tại: Khu L, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương ) đi từ thị trấn T sang thị trấn G để tìm kiếm gia đình nào có tài sản để sơ hở sẽ trộm cắp. Khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến khu A, thị trấn G, huyện G, B đi vào chùa N do bà Trương Thị T (tên gọi khác Thích Diệu D) là sư trụ trì. Tại đây, B quan sát thấy khu nhà ở của các nhà sư tu hành tại chùa không có người trông coi. B dựng xe mô tô BKS: 34B3- 023.05 ở lối đi xuống khu nhà dưới gần sân chùa. Sau đó đi qua cửa lách bên tay trái của khu nhà ở rồi đi thẳng vào phòng ngủ của chị Mai Thị Thu H (tên gọi khác Thích Liên D) là người tu hành tại chùa tìm kiếm tài sản để trộm cắp. B thấy 01 giấy phép lái xe mang tên Mai Thị Thu H trong cặp sách của chị H, B đã lấy cho vào túi của mình và trên mặt bàn tại phòng ngủ của chị H để 01 quả chuông đồng, B lấy một chiếc bao dứa màu vàng để gần đó cho chiếc chuông đồng vào bao dứa, xách bao đựng chuông đi qua cửa lách rồi ra ngoài sân, để bao tải dứa đựng chuông đồng lên bụng xe mô tô rồi nổ máy điều khiển xe chạy hướng huyện T. Sau đó, B điều khiển xe máy qua nhà anh Hoàng Minh T - Sinh năm 1976, ở thôn M, xã Q, huyện T là người quen biết với B gửi bao đựng chuông đồng chờ tìm nơi tiêu thụ.
Sau khi bị phát hiện, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lộc đã thu giữ của B 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda - Wave, màu trắng – đen, BKS: 34B3- 023.05, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ, 01 giấy phép lái xe mang tên Mai Thị Thu H, 01 chuông đồng và 01 bao dứa màu vàng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 15/KL- HĐ ĐGTS ngày 09/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Gia Lộc kết luận: 01 chuông đồng (loại chuông treo), kích thước cao 54cm, đường kính miệng chuông rộng 25cm, chuông dày 0,5cm, đỉnh chuông được làm có biểu tượng hình Rồng, Hông chuông có in hình hoa văn, trọng lượng chuông: 8,5kg, tình trạng cũ đã qua sử dụng và 01 bao tải dứa màu vàng, kích thước (70x40) cm. Tổng trị giá là 10.003.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố về hành vi phạm tội đối với bị cáo. Bị cáo khai nhận vào ngày 04/7/2019 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản tại chùa Nghiêm Quang thuộc khu 7, thị trấn Gia Lộc, huyện Gia Lộc 01 chuông đồng và 01 bao tải dứa, mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài . Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Cáo trạng số 72/CT-VKS ngày 09/9/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Đặng Văn B về tội “Trộm cắp tài sản’’ theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản’’. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn B 27 từ tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04/7/2019. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đặng Văn B phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của bị hại, trong quá trình điều tra và trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà Trương Thị T (tên gọi khác Thích Diệu D) trụ trì chùa N xác định đã nhận lại tài sản 01 chuông đồng và chiếc bao dứa do bị cáo B chiếm đoạt nên không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.
Đối với anh Ngô Văn Đ là người cho Đặng Văn B mượn chiếc xe mô tô BKS 34B3 -023.05 và 01 mũ bảo hiểm nhưng anh Đ không biết B sử dụng làm phương tiện phạm tội, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lộc đã trả lại cho anh Đ, tài sản không bị hư hỏng thiệt hại gì, anh Đ không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên không đặt ra giải quyết. Chị Mai Thị Thu H (pháp danh Thích Liên D) đã nhận lại chứng minh thư nhân dân không có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.
Bị cáo nói lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 04/7/2019 tại chùa N thuộc Khu A, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương, Đặng Văn B đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản gồm: 01 chuông đồng đựng trong 01 bao dứa màu vàng trị giá 10.003.000đồng và 01 giấy phép lái xe của chị Mai Thị Thu H (Không xác định giá trị).
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá 10.003.000đồng nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tại Bản án số 53/2015/HSST ngày 28/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương đã xét xử bị cáo 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản với tình tiết định khung là Tái phạm nguy hiểm, bị cáo chưa được xóa án tích nên hành vi phạm tội lần này của bị cáo vẫn thuộc trường hợp Tái phạm nguy hiểm với tình tiết định khung quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc và luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự là cần thiết nhằm giáo dục và cải tạo bị cáo trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội đồng thời là bài học phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá 10.003.000đồng được xác định là gây thiệt hại không lớn nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.
Căn cứ quy định của bộ luật hình sự, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo HĐXX thấy: Bị cáo đã nhiều lần bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản nhưng bị cáo cũng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân nay lại tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian có vậy mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp với khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Lời khai của bà Trương Thị T (tên gọi khác Thích Diệu D) là sư trụ trì chùa N trong quá trình điều tra cũng như trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xác định đã nhận lại cho chùa N tài sản 01 chuông đồng ; 01 bao dứa màu vàng, chị Mai Thị Thu H đã nhận lại 01 giấy phép lái xe, anh Ngô Văn Đ đã nhận lại chiếc xe mô tô BKS 34B3 -023.05 và 01 mũ bảo hiểm . Bà T, chị H, anh Đ không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên HĐXX không đặt ra giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Ngày 09/7/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lộc Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại 01 chuông đồng 01 bao dứa màu vàng cho bà Trương Thị T (tên gọi khác Thích Diệu D) là sư trụ trì chùa N; trả lại 01 giấy phép lái xe mang tên chị Mai Thị Thu H (tên gọi khác Thích Liên D); trả lại cho anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1995; trú tại: Khu L , thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương 01xe mô tô BKS 34B3 -023.05 và 01 mũ bảo hiểm việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lộc là có căn cứ phù hợp quy định của pháp luật
Trong quá trình điều tra bà Dương Thị L giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lộc 01 USB nhãn hiệu Kingstown 100GB màu đen đây là tài liệu kèm theo hồ sơ nên được lưu trong hồ sơ vụ án.
Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác: Đối với anh Ngô Văn Đ là người cho Đặng Văn B mượn chiếc xe máy BKS: 34B3- 023.05 và 01 mũ bảo hiểm màu đỏ. Anh Đ không biết B dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên không đặt ra xử lý là phù hợp.
Đối với anh Hoàng Minh T đã cho Phạm Văn B để nhờ tại nhà ở của mình chiếc chuông sau khi B trộm cắp tại chùa N. Anh T không biết đây là tài sản B trộm cắp nên không đặt ra xử lý là phù hợp
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015. Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
1.Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Văn B 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04/7/2019.
3. Về án phí: Bị cáo Đặng Văn B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dương. - VKSND tỉnh Hải Dương - VKSND huyện Gia Lộc; - Cơ quan điều tra - Công an huyện Gia Lộc; - Phòng quản lý nghiệp vụ CA huyện Gia Lộc; - Cơ quan THA hình sự - Công an huyện Gia Lộc; - Chi cục THA dân sự huyện Gia Lộc; - Bị cáo; - Người bị hại; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đỗ Thị Minh Yến |