- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng P.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2019/HNGĐ-ST Ngày 11-11-2019 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng 2. Bà Nguyễn Thị Thọ
- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Bà Khuất Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 259/2019/TLST-HNGĐ ngày 01/7/2019 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/10/2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2019/QĐST-HNGĐ ngày 31/10/2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng P, sinh năm 1987 (Có mặt)
Địa chỉ: phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Chỗ ở: thị trấn L1, huyện L2, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
2. Bị đơn: Ông Đỗ Mạnh T, sinh năm 1988 (Vắng mặt)
Địa chỉ: phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:
Bà Lê Thị Hồng P và ông Đỗ Mạnh T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2011, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (giấy chứng nhận kết hôn số A, quyển số A1 ngày C2011). Cả hai chung sống hạnh phúc và sinh được 01 con chung. Tuy nhiên đến năm 2017 thì vợ chồng bắt đầu xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng trong quan điểm sống, không tôn trọng nhau nên có xảy ra cãi vã xô xát, gia đình có chứng kiến và khuyên can nhưng không thay đổi được, cả hai không tự hòa giải được nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và đã sống ly thân nhau từ khoảng cuối năm 2017 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà P đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: Bà P và ông T có với nhau 01 con chung tên Đỗ Khánh N, sinh năm 2012. Khi ly hôn bà P đề nghị được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung : Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Đỗ Mạnh T:
Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án; triệu tập ông T đến tòa làm việc, hòa giải và yêu cầu cung cấp chứng cứ nhưng ông T đều vắng mặt. Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng đến nay ông T vẫn không đến tham gia phiên tòa.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, giải quyết vụ án trong hạn luật định theo Điều 28, 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thu thập chứng cứ đầy đủ, trình tự tại phiên tòa Hội đồng xét xử, thư ký tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu ly hôn, con chung; Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Căn cứ theo đơn khởi kiện của nguyên đơn thì Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Các đương sự cư trú tại thành phố B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bà Lê Thị Hồng P và ông Đỗ Mạnh T tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn theo đúng quy định. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được những năm đầu, sau đó thì xảy ra mâu thuẫn xung đột. Qua lời thừa nhận của nguyên đơn và xác minh các thành viên trong gia đình hai bên thì xác định mâu thuẫn vợ chồng là có thật.
Quá trình giải quyết vụ án, ông T không đến Tòa là chưa có thái độ và thiện chí mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặt khác, tại Tòa bà P vẫn giữ yêu cầu được ly hôn do bà xác định hiện nay cả hai không thể hòa hợp được do không còn tình cảm với nhau và đã sống ly thân trong thời gian dài. Do vậy, xét thấy mâu thuẫn giữa bà P và ông T là trầm trọng không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
Về con chung: Ông bà có 01 con chung như đã trình bày, khi ly hôn bà P có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con, xét thấy: Từ khi sống ly thân thì bà P cháu N sống cùng bà P, ý kiến của hai bên Nội Ngoại cũng mong muốn bà P tiếp tục nuôi dạy cháu. Vì vậy cần giao cháu Đỗ Khánh N cho bà P nuôi, do không có yêu cầu về cấp dưỡng nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng P.
Về quan hệ hôn nhân: Bà P được ly hôn với ông T.
Về con chung: Giao cháu Đỗ Khánh N, sinh năm 2012 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được ngăn cản. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Bà P nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008745 ngày 26/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà P đã nộp xong án phí.
3. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. (Người vắng mặt thì thời hạn tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai)./.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; - VKSND thành phố B; - Chi cục THADS thành phố B; - UBND phường L, Tp B tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; (Số A, Quyển Á); - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Hoàng Anh |